Nhiễm khuẩn trong ổ bụng có biến chứng và nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp, bao gồm viêm thận-bể thận
ZERBAXA đã được đánh giá trong các thử nghiệm lâm sàng pha 3 trên cIAI (nhiễm khuẩn trong ổ bụng có biến chứng) và cUTI (nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp) đối chứng với thuốc so sánh, bao gồm tổng cộng 1.015 bệnh nhân điều trị bằng ZERBAXA (1,5 g mỗi 8 giờ, được điều chỉnh dựa trên chức năng thận khi thích hợp) và 1.032 bệnh nhân điều trị bằng thuốc so sánh (levofloxacin 750 mg/ngày trong thử nghiệm trên cUTI hoặc meropenem 1 g mỗi 8 giờ trong thử nghiệm trên cIAI) lên đến 14 ngày. Tuổi trung bình của các bệnh nhân được điều trị là 48-50 tuổi (từ 18-92 tuổi), theo nhóm điều trị và theo chỉ định. Ở cả hai chỉ định, khoảng 25% đối tượng từ 65 tuổi trở lên. Hầu hết bệnh nhân (75%) tham gia vào thử nghiệm cUTI là nữ và 58% bệnh nhân tham gia vào thử nghiệm cIAI là nam. Bảng 12 liệt kê các phản ứng bất lợi xảy ra ở 1% bệnh nhân hoặc nhiều hơn dùng ZERBAXA trong các thử nghiệm pha 3 về nhiễm khuẩn trong ổ bụng có biến chứng (cIAI) và nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp (cUTI).
- xem Bảng 12.

Ngừng điều trị do các tác dụng không mong muốn xảy ra ở 2% bệnh nhân (20/1.015) dùng ZERBAXA và 1,9% bệnh nhân (20/1.032) dùng thuốc so sánh.
* Các tác dụng không mong muốn ít gặp hơn trong các thử nghiệm lâm sàng pha 3 về nhiễm khuẩn trong ổ bụng có biến chứng (cIAI) và nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp (cUTI)
Các tác dụng không mong muốn được đề cập sau đây đã được báo cáo ở các đối tượng được điều trị bằng ZERBAXA với tỷ lệ ít hơn 1%:
Rối loạn tim: nhịp tim nhanh, đau thắt ngực.
Rối loạn tiêu hóa: viêm dạ dày, chướng bụng, khó tiêu, đầy hơi, liệt ruột.
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng: bệnh nấm Candida miệng-họng và nấm Candida âm hộ-âm đạo, nhiễm khuẩn đường tiết niệu do nấm, viêm đại tràng do Clostridium difficile.
Xét nghiệm: tăng gamma-glutamyl transpeptidase (GGT) trong huyết thanh, tăng phosphatase kiềm trong huyết thanh, thử nghiệm Coombs dương tính.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: tăng đường huyết, giảm magnesi máu, giảm phosphat máu.
Rối loạn hệ thần kinh: đột quỵ do thiếu máu cục bộ.
Rối loạn thận và tiết niệu: suy giảm chức năng thận, suy thận.
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất: khó thở.
Rối loạn da và mô dưới da: nổi mề đay.
Rối loạn mạch: huyết khối tĩnh mạch.
Viêm phổi bệnh viện, bao gồm viêm phổi liên quan với thở máy
ZERBAXA đã được đánh giá trong một thử nghiệm lâm sàng pha 3 về viêm phổi bệnh viện đối chứng với thuốc so sánh, bao gồm tổng cộng 361 bệnh nhân điều trị bằng ZERBAXA (3 g mỗi 8 giờ, được điều chỉnh dựa trên chức năng thận khi thích hợp) và 359 bệnh nhân điều trị bằng thuốc so sánh (meropenem 1 g mỗi 8 giờ) lên đến 14 ngày. Tuổi trung bình của các bệnh nhân được điều trị là 60 tuổi (từ 18-98 tuổi), trong các nhóm điều trị. Khoảng 44% đối tượng từ 65 tuổi trở lên. Hầu hết bệnh nhân (71%) tham gia vào thử nghiệm này là nam. Tất cả các đối tượng được thở máy và 92% nằm trong đơn vị chăm sóc tích cực (ICU) lúc chọn ngẫu nhiên. Điểm số APACHE II (điểm số đánh giá sinh lý cấp tính và đánh giá sức khỏe mạn tính II - Acute Physiologic Assessment and Chronic Health Evaluation II) trung vị là 17. Bảng 13 liệt kê các phản ứng bất lợi xảy ra ở 2% bệnh nhân hoặc nhiều hơn dùng ZERBAXA trong một thử nghiệm lâm sàng pha 3 về viêm phổi bệnh viện.
- xem Bảng 13.

Ngừng điều trị do các biến cố bất lợi liên quan đến điều trị xảy ra ở 1,1% bệnh nhân (4/361) dùng ZERBAXA và 1,4% bệnh nhân (5/359) dùng meropenem.
* Các phản ứng bất lợi ít gặp hơn trong một thử nghiệm lâm sàng pha 3 về viêm phổi bệnh viện
Các phản ứng bất lợi được lựa chọn sau đây đã được báo cáo ở các đối tượng điều trị bằng ZERBAXA với tỷ lệ ít hơn 2%:
Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng: nhiễm Clostridium difficile.
Xét nghiệm: bất thường về xét nghiệm chức năng gan, tăng phosphatase kiềm trong máu, tăng gamma-glutamyltransferase, xét nghiệm Clostridium dương tính, thử nghiệm Coombs trực tiếp dương tính.
* Các giá trị xét nghiệm
Sự phát sinh thử nghiệm Coombs trực tiếp dương tính có thể xảy ra trong khi điều trị bằng ZERBAXA. Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh sang thử nghiệm Coombs trực tiếp dương tính là 0,2% ở những bệnh nhân dùng ZERBAXA và 0% ở những bệnh nhân dùng thuốc so sánh trong các thử nghiệm lâm sàng về nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp và nhiễm khuẩn trong ổ bụng có biến chứng. Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh sang thử nghiệm Coombs trực tiếp dương tính là 31,2% ở những bệnh nhân dùng ZERBAXA và 3,6% ở những bệnh nhân dùng meropenem trong thử nghiệm lâm sàng về viêm phổi bệnh viện. Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có bằng chứng về tan máu ở những bệnh nhân đã phát sinh thử nghiệm Coombs trực tiếp dương tính ở bất kỳ nhóm điều trị nào.
View ADR Reporting Link
Đăng xuất