Zerbaxa

Zerbaxa Dược động học

ceftolozane + tazobactam

Nhà sản xuất:

Merck Sharp & Dohme (MSD)
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược động học
Giới thiệu chung
Các thông số dược động học trung bình của ZERBAXA (ceftolozane và tazobactam) ở người lớn khỏe mạnh có chức năng thận bình thường sau khi truyền tĩnh mạch 1 giờ liều đơn và nhiều liều ZERBAXA 1,5 gam (ceftolozane 1 g và tazobactam 0,5 g) hoặc 3 g (ceftolozane 2 g và tazobactam 1 g) mỗi 8 giờ được tóm tắt trong Bảng 1. Dược động học của ceftolozane và tazobactam tương tự nhau sau khi dùng liều đơn và nhiều liều. Nồng độ tối đa trong huyết tương (Cmax) và diện tích dưới đường cong (AUC) của ceftolozane và tazobactam tăng tỷ lệ với liều dùng. Thời gian bán thải (t1/2) của ceftolozane hoặc tazobactam không phụ thuộc vào liều dùng.
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Các thông số dược động học quần thể trung bình của ZERBAXA ở những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn trong ổ bụng có biến chứng và nhiễm khuẩn đường tiết niệu có biến chứng được truyền tĩnh mạch 1 giờ với liều ZERBAXA 1,5 g (ceftolozane 1 g và tazobactam 0,5 g) hoặc bệnh nhân bị viêm phổi bệnh viện được truyền tĩnh mạch 1 giờ với liều ZERBAXA 3 g (ceftolozane 2 g và tazobactam 1 g) mỗi 8 giờ được tóm tắt trong Bảng 2.
- xem Bảng 2.

Image from Drug Label Content

Phân bố
Sự gắn kết của ceftolozane và tazobactam với protein huyết tương ở người tương ứng khoảng 16% đến 21% và 30%. Thể tích phân bố trung bình (hệ số biến thiên, CV%) ở trạng thái ổn định của ZERBAXA ở nam giới người lớn khỏe mạnh (n = 51) sau một liều đơn tiêm tĩnh mạch ZERBAXA 1,5 g (ceftolozane 1 g và tazobactam 0,5 g) theo thứ tự là 13,5 lít (21%) và 18,2 lít (25%) đối với ceftolozane và tazobactam, tương tự như thể tích dịch ngoại bào.
Sau khi truyền tĩnh mạch trong 1 giờ với liều ZERBAXA 3 g (ceftolozane 2 g và tazobactam 1 g) hoặc điều chỉnh dựa trên chức năng thận mỗi 8 giờ ở những bệnh nhân thở máy đã xác định hoặc nghi ngờ viêm phổi (n = 22), nồng độ ceftolozane và tazobactam trong dịch lót biểu mô phổi theo thứ tự lớn hơn 8 mcg/mL và 1 mcg/mL suốt 100% khoảng giữa các liều. Trung bình tỷ lệ AUC của nồng độ trong dịch lót biểu mô phổi/nồng độ tự do trong huyết tương của ceftolozane và tazobactam theo thứ tự khoảng 50% và 62% và tương tự như ở những đối tượng khỏe mạnh (theo thứ tự khoảng 61% và 63%) dùng ZERBAXA 1,5 g (ceftolozane 1 g và tazobactam 0,5 g).
Chuyển hóa
Ceftolozane được đào thải chủ yếu trong nước tiểu dưới dạng thuốc ban đầu không đổi và dường như không chuyển hóa ở bất kỳ mức độ nào đáng kể. Vòng beta-lactam của tazobactam được thủy phân tạo thành chất chuyển hóa M1 của tazobactam không có hoạt tính dược lý.
Thải trừ
Ceftolozane/tazobactam và chất chuyển hóa M1 của tazobactam được đào thải bởi thận. Sau khi tiêm tĩnh mạch một liều đơn ceftolozane/tazobactam 1 g/0,5 g cho nam giới người lớn khỏe mạnh, hơn 95% ceftolozane được bài tiết trong nước tiểu dưới dạng thuốc ban đầu không đổi. Hơn 80% tazobactam được bài tiết dưới dạng hợp chất ban đầu với lượng còn lại được bài tiết dưới dạng chất chuyển hóa M1 của tazobactam. Sau khi tiêm một liều đơn ZERBAXA, độ thanh thải thận của ceftolozane (3,41-6,69 lít/giờ) tương tự như độ thanh thải huyết tương (4,10-6,73 lít/giờ) và tương tự với tốc độ lọc của cầu thận đối với phần không gắn kết, cho thấy ceftolozane được thận đào thải bằng cách lọc qua cầu thận.
Thời gian bán thải cuối cùng trung bình của ceftolozane và tazobactam ở người lớn khỏe mạnh có chức năng thận bình thường theo thứ tự là khoảng 3 giờ và 1 giờ.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Suy thận
Ceftolozane/tazobactam và chất chuyển hóa M1 của tazobactam được đào thải bởi thận.
Giá trị trung bình hình học của diện tích dưới đường cong (AUC) ở liều chuẩn hóa của ceftolozane tăng lên theo thứ tự là 1,26 lần, 2,5 lần và 5 lần ở các đối tượng suy thận nhẹ, trung bình và nặng so với các đối tượng khỏe mạnh có chức năng thận bình thường. Giá trị trung bình hình học của diện tích dưới đường cong (AUC) ở liều chuẩn của tazobactam tương ứng tăng lên khoảng 1,3 lần, 2 lần và 4 lần. Để duy trì nồng độ toàn thân tương tự như các đối tượng có chức năng thận bình thường, cần điều chỉnh liều [xem Liều lượng và cách dùng].
Ở các đối tượng bị bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD) đang được thẩm phân máu (HD), khoảng hai phần ba liều ceftolozane/tazobactam đã dùng được loại bỏ bằng thẩm phân máu. Liều khuyến cáo ở các đối tượng bị bệnh thận giai đoạn cuối đang được thẩm phân máu là một liều nạp duy nhất ZERBAXA 750 mg (ceftolozane 500 mg và tazobactam 250 mg), tiếp theo là một liều duy trì ZERBAXA 150 mg (ceftolozane 100 mg và tazobactam 50 mg) được dùng mỗi 8 giờ trong thời gian điều trị còn lại. Liều khuyến cáo ở các đối tượng bị viêm phổi bệnh viện bị bệnh thận giai đoạn cuối đang được thẩm phân máu là một liều nạp duy nhất ZERBAXA 2,25 g (ceftolozane 1,5 g và tazobactam 0,75 g), tiếp theo là một liều duy trì ZERBAXA 450 mg (ceftolozane 300 mg và tazobactam 150 mg) được dùng mỗi 8 giờ trong thời gian điều trị còn lại. Với thẩm phân máu, liều này nên được dùng ngay sau khi hoàn thành thẩm phân [xem Liều lượng và cách dùng].
Tăng độ thanh thải thận
Sau khi truyền tĩnh mạch 1 giờ với một liều duy nhất ZERBAXA 3 g (ceftolozane 2 g và tazobactam 1 g) cho bệnh nhân bị bệnh nặng với độ thanh thải creatinin (CrCl) lớn hơn hoặc bằng 180 mL/phút (n = 10), giá trị thời gian bán thải pha cuối trung bình của ceftolozane và tazobactam theo thứ tự là 2,6 giờ và 1,5 giờ. Nồng độ ceftolozane tự do trong huyết tương lớn hơn 8 mcg/mL trong 70% của khoảng thời gian 8 giờ; nồng độ tazobactam tự do lớn hơn 1 mcg/mL trong 60% của khoảng thời gian 8 giờ. Không khuyến cáo điều chỉnh liều ZERBAXA đối với bệnh nhân bị viêm phổi bệnh viện có tăng độ thanh thải thận.
Suy gan
Do ceftolozane/tazobactam không bị chuyển hóa qua gan, độ thanh thải toàn thân của ceftolozane/tazobactam không được dự kiến là sẽ bị ảnh hưởng bởi suy gan. Không cần điều chỉnh liều ZERBAXA ở các đối tượng suy gan [xem Liều lượng và cách dùng].
Người cao tuổi
Trong một phân tích dược động học quần thể về ceftolozane/tazobactam, không quan sát thấy sự khác biệt về AUC có ý nghĩa lâm sàng liên quan đến tuổi. Không khuyến cáo điều chỉnh liều ZERBAXA chỉ đơn thuần dựa trên tuổi. Việc điều chỉnh liều đối với ZERBAXA ở bệnh nhân cao tuổi nên dựa trên chức năng thận [xem Liều lượng và cách dùng].
Bệnh nhân trẻ em
Độ an toàn và hiệu quả ở bệnh nhân trẻ em chưa được xác định.
Giới tính
Trong một phân tích dược động học quần thể về ceftolozane/tazobactam, không quan sát thấy sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về AUC đối với ceftolozane và tazobactam. Không khuyến cáo điều chỉnh liều dựa trên giới tính.
Chủng tộc
Trong một phân tích dược động học quần thể về ceftolozane/tazobactam, không quan sát thấy sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về AUC đối với ceftolozane/tazobactam ở người da trắng so với tất cả các chủng tộc khác kết hợp. Không khuyến cáo điều chỉnh liều dựa trên chủng tộc.
CÁC NGHIÊN CỨU LÂM SÀNG
Nhiễm khuẩn trong ổ bụng có biến chứng
Tổng cộng có 979 người lớn nhập viện do nhiễm khuẩn trong ổ bụng có biến chứng đã được chọn ngẫu nhiên và dùng thuốc nghiên cứu trong một nghiên cứu đa trung tâm, mù đôi so sánh ZERBAXA 1,5 g (ceftolozane 1 g và tazobactam 0,5 g) tiêm truyền tĩnh mạch mỗi 8 giờ cộng với metronidazole (500 mg tiêm truyền tĩnh mạch mỗi 8 giờ) với meropenem (1 g tiêm truyền tĩnh mạch mỗi 8 giờ) trong 4-14 ngày điều trị. Nhiễm khuẩn trong ổ bụng có biến chứng bao gồm viêm ruột thừa, viêm túi mật, viêm túi thừa, thủng dạ dày/tá tràng, thủng ruột và các nguyên nhân khác gây áp xe trong ổ bụng và viêm màng bụng. Phần lớn bệnh nhân (75%) đến từ Đông Âu; 6,3% đến từ Mỹ.
Tiêu chí chính về hiệu quả là đáp ứng lâm sàng, được định nghĩa là hồi phục hoàn toàn hoặc cải thiện đáng kể về các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm khuẩn lần đầu tiên vào lần đánh giá chữa khỏi (test-of-cure, TOC) xảy ra từ 24-32 ngày sau liều đầu tiên của thuốc nghiên cứu. Nhóm bệnh nhân phân tích chính về hiệu quả là nhóm bệnh nhân theo ý định điều trị (ITT) có thể đánh giá về mặt vi sinh học (microbiological intent-to-treat - MITT), bao gồm tất cả các bệnh nhân có ít nhất 1 tác nhân gây bệnh trong ổ bụng ban đầu bất kể tính nhạy cảm với thuốc nghiên cứu. Tiêu chí phụ chủ yếu về hiệu quả là đáp ứng lâm sàng vào lần khám thử nghiệm chữa khỏi ở nhóm bệnh nhân có thể đánh giá về mặt vi sinh học (microbiologically evaluable - ME), bao gồm tất cả bệnh nhân MITT tuân thủ đề cương.
Nhóm bệnh nhân MITT bao gồm 806 bệnh nhân; tuổi trung vị là 52 tuổi và 57,8% là nam. Chẩn đoán phổ biến nhất là thủng ruột thừa hoặc áp xe quanh ruột thừa, xảy ra ở 47% bệnh nhân. Viêm màng bụng lan tỏa lúc ban đầu hiện diện ở 34,2% bệnh nhân.
ZERBAXA cộng với metronidazole không thua kém meropenem về tỷ lệ chữa khỏi trên lâm sàng vào lần khám thử nghiệm chữa khỏi (TOC) ở nhóm bệnh nhân MITT. Tỷ lệ chữa khỏi trên lâm sàng vào lần khám TOC được thể hiện theo nhóm bệnh nhân trong Bảng 3. Tỷ lệ chữa khỏi trên lâm sàng vào lần khám TOC theo tác nhân gây bệnh ở nhóm bệnh nhân MITT được trình bày trong Bảng 4.
- xem Bảng 3 và 4.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Trong một phân nhóm các chủng phân lập của E. coli K. pneumoniae từ cả hai nhóm của thử nghiệm pha 3 về nhiễm khuẩn trong ổ bụng có biến chứng, đáp ứng các tiêu chuẩn đã xác định trước về tính nhạy cảm với thuốc nhóm beta-lactam, xét nghiệm genotype đã xác định được một số nhóm beta-lactamase phổ rộng (ESBL) (ví dụ TEM, SHV, CTX-M, OXA) ở 53/601 (9%). Tỷ lệ chữa khỏi ở phân nhóm này tương tự như kết quả thử nghiệm tổng thể. Thử nghiệm về tính nhạy cảm in vitro cho thấy một số chủng phân lập này nhạy cảm với ZERBAXA (nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) ≤ 2 mcg/mL), trong khi một số chủng phân lập khác không nhạy cảm (MIC > 2 mcg/mL). Các chủng phân lập của một genotype đặc hiệu đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân được cho là thành công hoặc thất bại.
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp, bao gồm viêm thận-bể thận
Tổng cộng có 1.068 người lớn nhập viện do nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp (bao gồm viêm thận-bể thận) đã được chọn ngẫu nhiên và dùng thuốc nghiên cứu trong một nghiên cứu đa quốc gia, mù đôi so sánh ZERBAXA 1,5 g (ceftolozane 1 g và tazobactam 0,5 g) tiêm truyền tĩnh mạch mỗi 8 giờ với levofloxacin (750 mg tiêm truyền tĩnh mạch 1 lần/ngày) trong 7 ngày điều trị. Tiêu chí chính về hiệu quả được xác định là hồi phục hoàn toàn hoặc cải thiện rõ rệt các triệu chứng lâm sàng và tiệt trừ về mặt vi sinh học (tất cả các tác nhân gây bệnh đường tiết niệu được tìm thấy lúc ban đầu ở mức ≥ 105 giảm xuống < 104 CFU/mL - (số đơn vị khuẩn lạc)/mL) vào lần khám thử nghiệm chữa khỏi (TOC) lúc 7 (± 2) ngày sau liều cuối cùng của thuốc nghiên cứu. Nhóm bệnh nhân phân tích chính về hiệu quả là nhóm bệnh nhân theo ý định điều trị sửa đổi có thể đánh giá về mặt vi sinh học (mMITT), bao gồm tất cả các bệnh nhân dùng thuốc nghiên cứu và có ít nhất 1 tác nhân gây bệnh đường tiết niệu lúc ban đầu. Tiêu chí phụ chủ yếu về hiệu quả là tổng hợp đáp ứng chữa khỏi về mặt vi sinh học và chữa khỏi trên lâm sàng vào lần khám TOC ở nhóm bệnh nhân có thể đánh giá về mặt vi sinh học (ME), bao gồm các bệnh nhân mMITT tuân thủ đề cương với xét nghiệm cấy nước tiểu vào lần khám TOC.
Nhóm bệnh nhân mMITT bao gồm 800 bệnh nhân bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp, trong đó 656 (82%) bị viêm thận bể thận. Tuổi trung vị là 50,5 tuổi và 74% là nữ. Nhiễm vi khuẩn huyết đồng thời được xác định ở 62 bệnh nhân (7,8%) lúc ban đầu; 608 bệnh nhân (76%) tham gia ở Đông Âu và 14 bệnh nhân (1,8%) tham gia ở Mỹ.
ZERBAXA đã cho thấy hiệu quả liên quan đến tiêu chí tổng hợp về chữa khỏi về mặt vi sinh học và chữa khỏi trên lâm sàng vào lần khám TOC ở cả hai nhóm bệnh nhân mMITT và ME (Bảng 5). Tỷ lệ chữa khỏi về mặt vi sinh học và chữa khỏi trên lâm sàng tổng hợp vào lần khám TOC theo tác nhân gây bệnh ở nhóm bệnh nhân mMITT được trình bày trong Bảng 6.
Ở nhóm bệnh nhân mMITT, tỷ lệ chữa khỏi tổng hợp ở những bệnh nhân nhiễm vi khuẩn huyết đồng thời lúc ban đầu được điều trị bằng ZERBAXA là 23/29 (79,3%).
Mặc dù đã quan sát thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở nhóm dùng ZERBAXA so với nhóm dùng levofloxacin về tiêu chí chính, nhưng có khả năng là do 212/800 bệnh nhân (26,5%) có các sinh vật ban đầu không nhạy cảm với levofloxacin. Ở những bệnh nhân bị nhiễm một sinh vật nhạy cảm với levofloxacin lúc ban đầu, tỷ lệ đáp ứng là tương tự (Bảng 5).
- xem Bảng 5 và 6.

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Trong một phân nhóm các chủng phân lập của E. coli K. pneumoniae từ cả hai nhóm của thử nghiệm pha 3 về nhiễm khuẩn đường tiết niệu có biến chứng (cUTI), đáp ứng các tiêu chuẩn đã xác định trước về tính nhạy cảm với thuốc nhóm beta-lactam, xét nghiệm genotype đã xác định được một số nhóm beta-lactamase phổ rộng (ESBL) (ví dụ TEM, SHV, CTX-M, OXA) ở 104/687 (15%). Tỷ lệ chữa khỏi ở phân nhóm này tương tự như kết quả thử nghiệm tổng thể. Thử nghiệm về tính nhạy cảm in vitro cho thấy một số chủng phân lập này nhạy cảm với ZERBAXA (MIC ≤ 2 mcg/mL), trong khi một số chủng phân lập khác không nhạy cảm (MIC > 2 mcg/mL). Các chủng phân lập của một genotype đặc hiệu đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân được cho là thành công hoặc thất bại.
Viêm phổi do vi khuẩn mắc phải trong bệnh viện và viêm phổi do vi khuẩn liên quan với thở máy (HABP/VABP)
Tổng cộng có 726 bệnh nhân người lớn nhập viện vì viêm phổi do vi khuẩn mắc phải trong bệnh viện/viêm phổi do vi khuẩn liên quan với thở máy đã tham gia vào một nghiên cứu đa quốc gia, mù đôi (NCT02070757) so sánh ZERBAXA 3 g (ceftolozane 2 g và tazobactam 1 g) tiêm truyền tĩnh mạch mỗi 8 giờ với meropenem (1 g tiêm truyền tĩnh mạch mỗi 8 giờ) trong 8-14 ngày điều trị. Tất cả bệnh nhân phải được đặt nội khí quản và đang thở máy lúc chọn ngẫu nhiên.
Hiệu quả được đánh giá dựa trên tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân vào ngày thứ 28 và chữa khỏi trên lâm sàng, được định nghĩa là hồi phục hoàn toàn hoặc cải thiện đáng kể về các dấu hiệu và triệu chứng của nhiễm khuẩn lần đầu tiên vào lần khám thử nghiệm chữa khỏi (TOC) xảy ra từ 7-14 ngày sau kết thúc điều trị. Nhóm bệnh nhân phân tích là nhóm bệnh nhân theo ý định điều trị (ITT), bao gồm tất cả các bệnh nhân được chọn ngẫu nhiên.
Sau khi chẩn đoán viêm phổi do vi khuẩn mắc phải trong bệnh viện/viêm phổi do vi khuẩn liên quan với thở máy và trước khi nhận được liều thuốc nghiên cứu đầu tiên, nếu cần, bệnh nhân có thể được điều trị tích cực tối đa 24 giờ bằng thuốc kháng khuẩn không nghiên cứu trong 72 giờ trước liều đầu tiên của thuốc nghiên cứu. Những bệnh nhân đã thất bại trong điều trị bằng thuốc kháng khuẩn trước đó trong giai đoạn hiện tại của viêm phổi do vi khuẩn mắc phải trong bệnh viện/viêm phổi do vi khuẩn liên quan với thở máy có thể tham gia nếu cấy đường hô hấp dưới (LRT) ban đầu cho thấy sự phát triển của tác nhân gây bệnh Gram âm trong khi bệnh nhân đang điều trị kháng khuẩn và tất cả các tiêu chí đủ điều kiện khác đã được đáp ứng. Cần phải điều trị theo kinh nghiệm lúc ban đầu bằng linezolid hoặc liệu pháp khác đã được phê duyệt để bao phủ vi khuẩn Gram dương ở tất cả các bệnh nhân đang chờ kết quả cấy đường hô hấp dưới ban đầu. Điều trị vi khuẩn Gram âm bổ trợ là lựa chọn và được phép trong tối đa 72 giờ ở các trung tâm có tỷ lệ P. aeruginosa kháng meropenem hơn 15%.
Trong số 726 bệnh nhân ở nhóm bệnh nhân ITT, tuổi trung vị là 62 tuổi và 44% của nhóm này từ 65 tuổi trở lên, với 22% của nhóm này từ 75 tuổi trở lên. Phần lớn bệnh nhân là người da trắng (83%), nam (71%) và đến từ Đông Âu (64%). Điểm số APACHE II trung vị là 17 và 33% đối tượng có điểm số APACHE II lúc ban đầu lớn hơn hoặc bằng 20. Tất cả các đối tượng đều được thở máy và 519 bệnh nhân (71%) bị viêm phổi do vi khuẩn liên quan với thở máy. Lúc chọn ngẫu nhiên, 92% đối tượng nằm tại đơn vị chăm sóc tích cực (ICU), 77% đã nhập viện 5 ngày hoặc lâu hơn và 49% được thở máy trong 5 ngày hoặc lâu hơn. Tổng cộng có 258 trong số 726 bệnh nhân (36%) có độ thanh thải creatinin (CrCl) dưới 80 mL/phút lúc ban đầu; trong số này, 99 bệnh nhân (14%) có CrCl dưới 50 mL/phút. Những bệnh nhân bị bệnh thận giai đoạn cuối (CrCl dưới 15 mL/phút) đã được loại trừ khỏi thử nghiệm. Khoảng 13% đối tượng đã thất bại với liệu pháp điều trị bằng thuốc kháng khuẩn hiện tại đối với viêm phổi do vi khuẩn mắc phải trong bệnh viện/viêm phổi do vi khuẩn liên quan với thở máy và vi khuẩn huyết đã hiện diện lúc ban đầu ở 15% bệnh nhân. Các bệnh đi kèm chủ yếu bao gồm đái tháo đường, suy tim sung huyết và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính với tỷ lệ theo thứ tự là 22%, 16% và 12%. Ở cả hai nhóm điều trị, hầu hết các đối tượng (63,1%) được dùng liệu pháp nghiên cứu từ 8-14 ngày như đã xác định trong đề cương.
Bảng 7 trình bày kết quả về tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân vào ngày thứ 28 và tỷ lệ chữa khỏi trên lâm sàng vào lần khám thử nghiệm chữa khỏi (TOC) về tổng thể và theo viêm phổi do vi khuẩn mắc phải trong bệnh viện được thở máy/viêm phổi do vi khuẩn liên quan với thở máy.
- xem Bảng 7.

Image from Drug Label Content

Ở nhóm bệnh nhân ITT, tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân vào ngày thứ 28 và tỷ lệ chữa khỏi trên lâm sàng ở bệnh nhân có độ thanh thải creatinin (CrCl) lớn hơn hoặc bằng 150 mg/phút là tương tự nhau giữa ZERBAXA và meropenem. Ở những bệnh nhân nhiễm vi khuẩn huyết lúc ban đầu, tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân vào ngày thứ 28 là 23/64 (35,9%) đối với bệnh nhân điều trị bằng ZERBAXA và 13/41 (31,7%) đối với bệnh nhân điều trị bằng meropenem; tỷ lệ chữa khỏi trên lâm sàng theo thứ tự là 30/64 (46,9%) và 15/41 (36,6%).
Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân vào ngày thứ 28 và tỷ lệ chữa khỏi trên lâm sàng vào lần khám thử nghiệm chữa khỏi (TOC) theo tác nhân gây bệnh đã được đánh giá ở nhóm bệnh nhân theo ý định điều trị có thể đánh giá về mặt vi sinh học (mITT), bao gồm tất cả các đối tượng được chọn ngẫu nhiên có tác nhân gây bệnh ở đường hô hấp dưới (LRT) ban đầu nhạy cảm với cả hai phương pháp điều trị nghiên cứu. Ở nhóm bệnh nhân mITT, Klebsiella pneumoniae (113/425, 26,6%) và Pseudomonas aeruginosa (103/425, 24,2%) là những tác nhân gây bệnh phổ biến nhất được phân lập từ cấy đường hô hấp dưới ban đầu.
Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân vào ngày thứ 28 và tỷ lệ chữa khỏi trên lâm sàng vào lần khám TOC theo tác nhân gây bệnh ở nhóm bệnh nhân mITT được trình bày trong Bảng 8. Ở nhóm bệnh nhân mITT, tỷ lệ chữa khỏi trên lâm sàng ở bệnh nhân có tác nhân gây bệnh Gram âm lúc ban đầu là 139/215 (64,7%) đối với ZERBAXA và 115/204 (56,4%) đối với meropenem, tương ứng.
- xem Bảng 8.

Image from Drug Label Content

Trong một nhóm phụ các chủng phân lập của Enterobacteriaceae từ cả hai nhóm của thử nghiệm đáp ứng các tiêu chuẩn đã xác định trước về tính nhạy cảm với thuốc nhóm beta-lactam, xét nghiệm genotype đã xác định được một số nhóm beta-lactamase phổ rộng (ESBL) (ví dụ TEM, SHV, CTX-M, OXA) ở 101/425 (23,8%). Tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân vào ngày thứ 28 và tỷ lệ chữa khỏi trên lâm sàng ở nhóm phụ này tương tự như kết quả thử nghiệm tổng thể.