Không có tương tác thuốc-thuốc đáng kể được ghi nhận giữa ZERBAXA và các cơ chất, thuốc ức chế và thuốc gây cảm ứng enzym cytochrom P450 (CYP) dựa trên các nghiên cứu in vitro và in vivo.
Các nghiên cứu in vitro đã chứng minh rằng ceftolozane, tazobactam và chất chuyển hóa M1 của tazobactam không ức chế CYP1A2, CYP2B6, CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6 hoặc CYP3A4 và không gây cảm ứng CYP1A2, CYP2B6 hoặc CYP3A4 ở nồng độ điều trị trong huyết tương. Một nghiên cứu tương tác thuốc-thuốc trên lâm sàng đã được tiến hành và kết quả cho thấy tương tác thuốc liên quan đến sự ức chế CYP1A2 và CYP3A4 bởi ZERBAXA không ghi nhận được.
Ceftolozane và tazobactam không phải là cơ chất đối với P-gp (P-glycoprotein) hoặc BCRP (Breast Cancer Resistance Protein - protein kháng ung thư vú) và tazobactam không phải là cơ chất đối với OCT2 (OCT: Organic cation transporter - chất vận chuyển cation hữu cơ) in vitro ở nồng độ điều trị trong huyết tương. Dữ liệu in vitro cho thấy ceftolozane không ức chế P-gp, BCRP, OATP1B1 (OATP: organic anion transporting polypeptides - polypeptid vận chuyển anion hữu cơ), OATP1B3, OCT1, OCT2, MRP (multidrug resistance-associated protein - protein liên quan đến kháng đa thuốc), BSEP (bile salt export pump - bơm tống xuất muối mật), OAT1 (OAT: organic anion transporter - chất vận chuyển anion hữu cơ), OAT3, MATE1 (MATE: multidrug and toxic compound extrusion transporter - chất vận chuyển đẩy đa thuốc và hợp chất độc) hoặc MATE2-K ở nồng độ điều trị trong huyết tương. Dữ liệu in vitro cho thấy cả tazobactam và chất chuyển hóa M1 của tazobactam ức chế P-gp, BCRP, chất vận chuyển OATP1B1, OATP1B3, OCT1, OCT2 hoặc BSEP ở nồng độ điều trị trong huyết tương.
Tazobactam là một cơ chất đối với OAT1 và OAT3. In vitro, tazobactam ức chế các chất vận chuyển OAT1 và OAT3 ở người với các giá trị IC50 tương ứng là 118 và 147 mcg/mL. Dùng đồng thời ceftolozane và tazobactam với furosemide là cơ chất của OAT1 và OAT3 trong một nghiên cứu lâm sàng cho thấy không làm tăng có ý nghĩa nồng độ furosemide trong huyết tương (tỷ lệ trung bình hình học tương ứng là 0,83 và 0,87 đối với Cmax và AUC. Tuy nhiên, các hoạt chất ức chế OAT1 hoặc OAT3 (ví dụ probenecid) có thể làm tăng nồng độ tazobactam trong huyết tương. Dùng đồng thời tazobactam với probenecid là chất ức chế OAT1/OAT3 đã cho thấy kéo dài thời gian bán thải của tazobactam 71%.
Đăng xuất