Ninlaro

Ninlaro

ixazomib

Nhà sản xuất:

Haupt Pharma

Nhà phân phối:

Takeda
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Thành phần
NINLARO 2,3 mg Mỗi viên: 2,3 mg ixazomib (dưới dạng ixazomib citrate 3,3 mg)
NINLARO 3 mg Mỗi viên: 3 mg ixazomib (dưới dạng ixazomib citrate 4,3 mg)
NINLARO 4 mg Mỗi viên: 4 mg ixazomib (dưới dạng ixazomib citrate 5,7 mg)
Mô tả
Tá dược:
Các chất chứa trong viên nang: Cellulose vi tinh thể, magnesi stearat, talc
Vỏ nang: Gelatin, titan dioxid (E171), oxid sắt màu đỏ (E172)
Mực in: Shellac, propylene glycol, kali hydroxid, oxid sắt màu đen (E172)
Dạng bào chế:
Viên nang cứng.
NINLARO 2,3 mg: Viên nang gelatin cứng, màu hồng nhạt, cỡ số 4, được khắc chữ “Takeda” trên nắp và “2.3 mg” trên thân bằng mực đen.
NINLARO 3 mg: Viên nang gelatin cứng, màu xám nhạt, cỡ số 4, được khắc chữ “Takeda” trên nắp và “3.0 mg” trên thân bằng mực đen.
NINLARO 4 mg: Viên nang gelatin cứng, màu cam nhạt, cỡ số 3, được khắc chữ “Takeda” trên nắp và “4.0 mg” trên thân bằng mực đen.
Dược lý
Các đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý trị liệu: Thuốc chống ung thư, các thuốc chống ung thư khác, mã ATC: L01XX50
Cơ chế tác dụng
Ixazomib citrate, một tiền chất thuốc, là một chất được thủy phân nhanh chóng trong các điều kiện sinh lý thành ixazomib là dạng có hoạt tính sinh học.
Ixazomib là chất ức chế proteasome đường uống, chọn lọc cao và có hồi phục. Ixazomib ưu tiên gắn kết và ức chế hoạt tính giống chymotrypsin của tiểu đơn vị beta 5 của proteasome 20S.
Ixazomib gây cảm ứng sự chết tế bào theo chương trình của một số loại tế bào khối u in vitro. Ixazomib đã cho thấy độc tính tế bào in vitro chống lại các tế bào u tủy từ những bệnh nhân tái phát sau khi được điều trị nhiều liệu pháp trước đó, bao gồm bortezomib, lenalidomide và dexamethasone. Sự phối hợp của ixazomib và lenalidomide đã cho thấy tác dụng hiệp đồng gây độc tế bào trong các dòng tế bào đa u tủy. In vivo, ixazomib đã cho thấy hoạt tính chống khối u trong các mô hình khối u ghép khác loài khác nhau, bao gồm các mô hình của đa u tủy. In vitro, ixazomib ảnh hưởng đến các loại tế bào được tìm thấy trong vi môi trường tủy xương bao gồm các tế bào nội mô mạch máu, hủy cốt bào và nguyên bào xương.
Điện sinh lý tim
Ixazomib không kéo dài khoảng QTc (khoảng QT hiệu chỉnh) ở các nồng độ có ý nghĩa lâm sàng dựa trên kết quả của một phân tích dược động học-dược lực học của dữ liệu từ 245 bệnh nhân. Ở liều 4 mg, thay đổi trung bình so với ban đầu về QTcF (khoảng QT hiệu chỉnh theo công thức Fridericia) ước tính là 0,07 mili giây (khoảng tin cậy (CI) 90%, -0,22, 0,36) từ phân tích dựa trên mô hình. Không có mối liên quan nào có thể thấy rõ giữa nồng độ ixazomib và khoảng RR cho thấy ixazomib không có tác dụng có ý nghĩa lâm sàng đối với nhịp tim.
Hiệu quả và độ an toàn lâm sàng
Hiệu quả và độ an toàn của NINLARO phối hợp với lenalidomide và dexamethasone đã được đánh giá trong một nghiên cứu quốc tế ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng với giả dược, đa trung tâm, pha 3 về tính ưu việt (C16010) ở những bệnh nhân bị đa u tủy tái phát và/hoặc kháng trị đã được điều trị ít nhất với một liệu pháp trước đó. Tổng cộng có 722 bệnh nhân (nhóm bệnh nhân được phân tích theo ý định điều trị [Intention-to-Treat, ITT]) được phân bổ ngẫu nhiên theo tỷ lệ 1:1 để dùng phối hợp NINLARO, lenalidomide, và dexamethasone (N=360; phác đồ NINLARO) hoặc giả dược, lenalidomide và dexamethasone (N=362; phác đồ giả dược) cho đến khi bệnh tiến triển xấu hơn hoặc độc tính không chấp nhận được. Các bệnh nhân được đưa vào thử nghiệm đã bị đa u tủy kháng trị, bao gồm kháng trị ban đầu, đã bị tái phát sau điều trị bằng liệu pháp trước đó, hoặc đã bị tái phát và kháng trị với bất kỳ liệu pháp nào trước đó. Những bệnh nhân thay đổi điều trị trước khi bệnh tiến triển xấu hơn đã đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, cũng như những người có các tình trạng tim mạch được kiểm soát. Nghiên cứu pha 3 đã loại trừ những bệnh nhân kháng trị với chất ức chế lenalidomide hoặc proteasome và những bệnh nhân đã được điều trị hơn 3 liệu pháp trước đó. Đối với mục đích của nghiên cứu này, bệnh kháng trị được định nghĩa là bệnh tiến triển xấu đi trong khi điều trị hoặc bệnh tiến triển xấu đitrong vòng 60 ngày sau khi dùng liều cuối cùng của lenalidomide hoặc một chất ức chế proteasome. Do dữ liệu được giới hạn ở những bệnh nhân này, khuyến cáo nên đánh giá nguy cơ và lợi ích cẩn thận trước khi bắt đầu phác đồ NINLARO.
Khuyến cáo điều trị dự phòng huyết khối đối với tất cả các bệnh nhân ở cả hai nhóm điều trị theo tóm tắt đặc tính sản phẩm của lenalidomide. Các thuốc dùng đồng thời, như thuốc chống nôn, thuốc kháng virus và thuốc kháng histamin được dùng cho các bệnh nhân theo sự suy xét của bác sĩ dưới dạng điều trị dự phòng và/hoặc xử trí các triệu chứng.
Các bệnh nhân đã dùng NINLARO 4 mg hoặc giả dược vào ngày thứ 1, 8 và 15 cộng với lenalidomide (25 mg) vào ngày thứ 1 cho đến ngày thứ 21 và dexamethasone (40 mg) vào ngày thứ 1, 8, 15 và 22 của chu kỳ 28 ngày. Các bệnh nhân suy thận đã dùng một liều khởi đầu của lenalidomide theo tóm tắt đặc tính sản phẩm của lenalidomide. Điều trị tiếp tục cho đến khi bệnh tiến triển xấu hơn hoặc độc tính không chấp nhận được.
Các đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm bệnh ban đầu là cân bằng và tương đương giữa các phác đồ nghiên cứu. Tuổi trung bình là 66 tuổi, trong khoảng từ 38-91 tuổi; 58% bệnh nhân lớn hơn 65 tuổi. 57% bệnh nhân là nam. 85% của nhóm nghiên cứu là người da trắng, 9% là người châu Á và 2% là người da đen. 93% bệnh nhân có tình trạng hoạt động cơ thể từ 0-1 theo thang điểm của Nhóm hợp tác nghiên cứu ung thư miền đông nước Mỹ (ECOG) và 12% có bệnh giai đoạn III theo hệ thống định giai đoạn quốc tế (ISS) lúc ban đầu (N=90). 25% bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 60 mL/phút. 23% bệnh nhân bị bệnh chuỗi nhẹ và 12% bệnh nhân bị bệnh có thể đo lường được chỉ bằng xét nghiệm chuỗi nhẹ tự do. 19% bệnh nhân có các bất thường về di truyền học tế bào có nguy cơ cao (del[17], t[4;14], t[14;16]) (N=137), 10% bệnh nhân có del(17) (N=69) và 34% bệnh nhân có 1q khuếch đại (1q21) (N=247). Các bệnh nhân đã được điều trị với 1-3 liệu pháp trước đó (trung vị là 1) bao gồm điều trị trước bằng bortezomib (69%), carfilzomib (< 1%), thalidomide (45%), lenalidomide (12%), melphalan (81%). 57% bệnh nhân đã trải qua sự ghép tế bào gốc trước đó. 77% bệnh nhân tái phát sau các trị liệu trước đó và 11% bệnh nhân kháng trị với các liệu pháp trước đó. Kháng trị nguyên phát, được định nghĩa là đáp ứng tốt nhất của bệnh ổn định hoặc bệnh tiến triển xấu hơn với tất cả các liệu pháp trước đó, đã được ghi nhận ở 6% bệnh nhân.
Tiêu chí đánh giá chính là thời gian sống còn không có bệnh tiến triển xấu (PFS) theo Tiêu chuẩn đáp ứng thống nhất đồng thuận của nhóm làm việc về u tủy quốc tế (International Myeloma Working Group, IMWG) năm 2011 như được đánh giá bởi một Ủy ban xem xét độc lập (IRC) theo phương pháp mù dựa trên kết quả của phòng thí nghiệm trung tâm. Đáp ứng được đánh giá mỗi 4 tuần cho đến khi tiến triển bệnh xấu hơn. Ở phân tích ban đầu (thời gian theo dõi trung vị 14,7 tháng và trung vị 13 chu kỳ), thời gian sống còn không có bệnh tiến triển xấu có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm điều trị. Kết quả về thời gian sống còn không có bệnh tiến triển xấu được tóm tắt trong Bảng 1 và Hình 1. Sự cải thiện về thời gian sống còn không có bệnh tiến triển xấu trong phác đồ NINLARO được hỗ trợ bởi sự cải thiện tỷ lệ đáp ứng toàn bộ.
- xem Bảng 1 và Hình 1

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Phân tích không suy luận thứ hai về thời gian sống còn không tiến triển bệnh (Progression-Free Survival – PFS) được thực hiện với thời gian theo dõi trung bình là 23 tháng. Tại phân tích này, PFS trung vị ước tính là 20 tháng trong phác đồ NINLARO và 15,9 tháng trong phác đồ giả dược (tỷ số nguy cơ = 0,82 [khoảng tin cậy 95% (0,67, 1,0)] ở nhóm ITT. Ở những bệnh nhân đã được điều trị một liệu pháp trước đó, PFS trung vị là 18,7 tháng trong phác đồ ixazomib và 17,6 tháng trong phác đồ giả dược (tỉ số nguy cơ = 0,99). Ở những bệnh nhân đã được điều trị 2 hoặc 3 liệu pháp trước đó, PFS trung vị là 22,0 tháng trong phác đồ ixazomib và 13,0 tháng trong phác đồ giả dược (tỉ số nguy cơ = 0,62).
Trong phân tích cuối cùng về thời gian sống toàn bộ (overall survival – OS) tại thời gian theo dõi trung vị 85 tháng, OS trung vị trong nhóm ITT là 53,6 tháng trong phác đồ ixazomib và 51,6 tháng trong phác đồ giả dược (tỷ số nguy cơ = 0,94 [khoảng tin cậy 95%: 0,78; 1,13; p = 0,495]. Ở những bệnh nhân đã được điều trị một liệu pháp trước đó, OS trung vị là 54,3 tháng trong phác đồ ixazomib và 58,3 tháng trong phác đồ giả dược (tỷ số nguy cơ = 1,02 [khoảng tin cậy 95%: 0,80; 1,29]. Ở những bệnh nhân đã được điều trị 2 hoặc 3 liệu pháp trước đó, OS trung vị là 53,0 tháng trong phác đồ ixazomib và 43,0 tháng trong phác đồ giả dược (tỷ số nguy cơ = 0,85 [khoảng tin cậy 95%: 0,64; 1,11].
Một nghiên cứu pha 3 ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng với giả dược đã được tiến hành ở Trung Quốc (N=115) với một thiết kế nghiên cứu tương tự và các tiêu chuẩn đủ điều kiện chọn vào nghiên cứu. Nhiều bệnh nhân tham gia nghiên cứu đã bị bệnh tiến triển nặng với giai đoạn III (69%) theo Durie-Salmon lúc chẩn đoán ban đầu và tiền sử điều trị đã dùng ít nhất 2 liệu pháp trước đó (60%) và kháng trị với thalidomide (63%). Ở phân tích ban đầu (thời gian theo dõi trung vị 8 tháng và trung vị 6 chu kỳ), thời gian sống còn không có bệnh tiến triển xấu đi trung vị là 6,7 tháng trong phác đồ NINLARO so với 4 tháng trong phác đồ giả dược (giá trị p = 0,035, tỷ số nguy cơ = 0,60). Tại phân tích cuối cùng về thời gian sống còn toàn bộ, thời gian theo dõi trung vị 19,8 tháng, thời gian sống còn toàn bộ đã được cải thiện đối với những bệnh nhân được điều trị trong phác đồ ixazomib so với giả dược [giá trị p = 0,0014, tỷ số nguy cơ = 0,42, khoảng tin cậy 95%: 0,242, 0,726].
Vì đa u tủy là một bệnh không đồng nhất nên lợi ích có thể khác nhau giữa các phân nhóm trong nghiên cứu pha 3 (C16010) (xem Hình 2).
- xem Hình 2

Image from Drug Label Content

Trong nghiên cứu pha 3 (C16010), 10 bệnh nhân (5 trong mỗi phác đồ điều trị) đã bị suy thận nặng lúc ban đầu. Trong số 5 bệnh nhân trong phác đồ NINLARO, một bệnh nhân có đáp ứng một phần được xác định và 3 bệnh nhân có bệnh ổn định được xác định (tuy nhiên 2 bệnh nhân có đáp ứng một phần không xác định và 1 bệnh nhân có đáp ứng một phần rất tốt không xác định). Trong số 5 bệnh nhân ở phác đồ giả dược, 2 bệnh nhân có đáp ứng một phần rất tốt được xác định.
Chất lượng cuộc sống như được đánh giá bởi điểm số sức khỏe tổng thể (theo Bảng câu hỏi đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư theo Tổ chức nghiên cứu và điều trị ung thư châu Âu - European Organization for Research and Treatment of Cancer Quality of Life Questionnaires - EORTC QLQ-C30 và MY-20) được duy trì trong khi điều trị và tương tự ở cả hai phác đồ điều trị trong nghiên cứu pha 3 (C16010).
Nhóm bệnh nhân trẻ em
Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu đã bỏ nghĩa vụ đệ trình kết quả nghiên cứu với NINLARO ở tất cả các phân nhóm bệnh nhân trẻ em bị đa u tủy (xem phần Liều lượng và cách dùng để biết thông tin về sử dụng ở trẻ em).
Các đặc tính dược động học
Hấp thu
Sau khi dùng đường uống, nồng độ đỉnh của ixazomib trong huyết tương đạt được vào khoảng một giờ sau khi dùng. Sinh khả dụng tuyệt đối đường uống trung bình là 58%. AUC của ixazomib tăng theo cách tỷ lệ với liều dùng trong khoảng liều từ 0,2-10,6 mg.
Dùng với một bữa ăn nhiều chất béo làm giảm AUC của ixazomib 28% so với dùng sau khi nhịn ăn qua đêm (xem phần Liều lượng và cách dùng).
Phân bố
Ixazomib gắn kết 99% với protein huyết tương và phân bố vào hồng cầu với tỷ lệ AUC máu/huyết tương là 10. Thể tích phân bố ổn định là 543 lít.
Biến đổi sinh học
Sau khi uống liều có đánh dấu phóng xạ, 70% của chất liên quan đến tổng lượng thuốc trong huyết tương được chiếm bởi ixazomib. Sự chuyển hóa bởi nhiều enzym CYP và các protein không CYP được dự kiến là cơ chế thải trừ chính của ixazomib. Ở các nồng độ ixazomib có ý nghĩa lâm sàng, các nghiên cứu in vitro sử dụng các isozym cytochrome P450 biểu hiện cDNA của người cho thấy không có isozym CYP đặc hiệu nào góp phần chủ yếu vào sự chuyển hóa ixazomib và các protein không CYP góp phần vào chuyển hóa tổng thể. Ở nồng độ vượt quá nồng độ được quan sát trên lâm sàng, ixazomib được chuyển hóa qua nhiều isoform CYP với sự góp phần tương đối được ước tính của 3A4 (42,3%), 1A2 (26,1%), 2B6 (16,0%), 2C8 (6,0%), 2D6 (4,8%), 2C19 (4,8%) và 2C9 (< 1%).
Thải trừ
Ixazomib có dữ liệu phân bố đa số mũ. Dựa trên phân tích dược động học (PK) quần thể, độ thanh thải toàn thân (CL) khoảng 1,86 lít/giờ với sự biến thiên giữa các cá nhân là 44%. Thời gian bán hủy pha cuối (t1/2) của ixazomib là 9,5 ngày. Sự tích lũy về AUC gấp khoảng 2 lần đã được quan sát thấy với liều uống hàng tuần vào ngày thứ 15.
Bài tiết
Sau khi dùng một liều uống duy nhất 14C-ixazomib cho 5 bệnh nhân bị ung thư tiến triển, 62% lượng thuốc có đánh dấu phóng xạ đã được bài tiết trong nước tiểu và 22% trong phân. Ixazomib dạng không đổi chiếm < 3,5% liều dùng được thu hồi trong nước tiểu.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Suy gan
Dược động học của ixazomib tương tự nhau ở bệnh nhân có chức năng gan bình thường và bệnh nhân suy gan nhẹ (bilirubin toàn phần ≤ giới hạn trên của mức bình thường (ULN) và AST > ULN hoặc bilirubin toàn phần > 1-1,5 lần ULN và bất kỳ AST nào) dựa trên kết quả phân tích dược động học quần thể.
Dược động học của ixazomib đã được định rõ đặc điểm ở bệnh nhân có chức năng gan bình thường ở liều 4 mg (N=12), suy gan trung bình ở liều 2,3 mg (bilirubin toàn phần > 1,5-3 lần ULN, N=13) hoặc suy gan nặng ở liều 1,5 mg (bilirubin toàn phần > 3 lần ULN, N=18). AUC chuẩn của liều thuốc không gắn kết cao hơn 27% ở bệnh nhân suy gan trung bình hoặc nặng so với bệnh nhân có chức năng gan bình thường (xem phần Liều lượng và cách dùng).
Suy thận
Dược động học của ixazomib tương tự nhau ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường và bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình (độ thanh thải creatinin ≥ 30 mL/phút) dựa trên kết quả phân tích dược động học quần thể.
Dược động học của ixazomib đã được định rõ đặc điểm ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường (độ thanh thải creatinin ≥ 90 mL/phút, N=18), suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 mL/phút, N=14) hoặc bệnh thận giai đoạn cuối cần phải thẩm phân (N=6). AUC của thuốc không gắn kết cao hơn 38% ở bệnh nhân suy thận nặng hoặc bệnh thận giai đoạn cuối cần phải thẩm phân so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Nồng độ ixazomib đo trước và sau khi thẩm phân trong suốt buổi thẩm phân máu là tương tự, cho thấy ixazomib không thể thẩm phân được (xem phần Liều lượng và cách dùng).
Tuổi, giới tính, chủng tộc
Không có ảnh hưởng có ý nghĩa lâm sàng về tuổi (23-91 tuổi), giới tính, diện tích bề mặt cơ thể (1,2-2,7 m2) hoặc chủng tộc về độ thanh thải của ixazomib dựa trên kết quả phân tích dược động học quần thể. AUC trung bình cao hơn 35% ở các bệnh nhân người châu Á; tuy nhiên, có sự chồng chéo về AUC của ixazomib ở bệnh nhân người da trắng và người châu Á.
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Tính gây đột biến
Ixazomib không gây đột biến trong xét nghiệm về đột biến ngược của vi khuẩn (thử nghiệm Ames) hoặc gây gãy nhiễm sắc thể trong xét nghiệm nhân nhỏ ở tủy xương trên chuột nhắt. Ixazomib đã có kết quả dương tính trong thử nghiệm gây gãy nhiễm sắc thể in vitro trong các tế bào lympho máu ngoại vi của người. Tuy nhiên, ixazomib âm tính trong một thử nghiệm Comet in vivo ở chuột nhắt, trong đó phần trăm DNA phần đuôi được đánh giá ở dạ dày và gan. Do đó, sức mạnh của bằng chứng chỉ ra rằng NINLARO không được xem là có nguy cơ độc tính gen.
Phát triển cơ quan sinh sản và phôi thai
Ixazomib đã gây độc cho phôi-thai ở chuột cống và thỏ mang thai chỉ ở liều độc với động vật mẹ và ở nồng độ hơi cao hơn so với nồng độ được quan sát thấy ở những bệnh nhân dùng liều khuyến cáo. Các nghiên cứu về khả năng sinh sản, sự phát triển phôi giai đoạn sớm và độc tính trước và sau sinh không được thực hiện với ixazomib, nhưng đánh giá các mô sinh sản đã được tiến hành trong các nghiên cứu độc tính chung. Không có ảnh hưởng nào do điều trị bằng ixazomib đến các cơ quan sinh sản đực hoặc cái trong các nghiên cứu với thời gian lên đến 6 tháng ở chuột cống và lên đến 9 tháng ở chó.
Độc chất học và/hoặc dược lý học trên động vật
Trong các nghiên cứu về độc tính liều lặp lại nhiều chu kỳ trên chuột cống và chó, các cơ quan đích chính bao gồm đường tiêu hóa, mô lympho và hệ thần kinh. Trong nghiên cứu 9 tháng (10 chu kỳ) ở chó được cho dùng đường uống với lịch dùng thuốc mô phỏng phác đồ điều trị trên lâm sàng (chu kỳ 28 ngày), các ảnh hưởng vi thể đến tế bào thần kinh nhìn chung chỉ tối thiểu về bản chất và chỉ được quan sát thấy ở liều 0,2 mg/kg (4 mg/m2). Đa số các phát hiện ở cơ quan đích đã cho thấy sự hồi phục một phần hoặc hoàn toàn sau khi ngừng điều trị, ngoại trừ những phát hiện về tế bào thần kinh ở hạch rễ sau vùng thắt lưng và cột sống lưng.
Một nghiên cứu về phân bố ở mô chuột cống sau khi dùng đường uống đã phát hiện não và tủy sống là những mô có mức thấp nhất, cho thấy sự xâm nhập của ixazomib qua hàng rào máu-não dường như bị giới hạn. Tuy nhiên, chưa rõ ý nghĩa đối với người.
Các nghiên cứu phi lâm sàng về dược lý an toàn cả in vitro (trên các kênh hERG) và in vivo (trên chó được đo từ xa sau khi dùng liều đơn đường uống) đã cho thấy không có ảnh hưởng nào của ixazomib đến các chức năng tim mạch hoặc hô hấp ở AUC cao gấp 8 lần so với giá trị lâm sàng.
Chỉ định/Công dụng
NINLARO phối hợp với lenalidomide và dexamethasone được chỉ định để điều trị cho những bệnh nhân người lớn bị đa u tủy đã được điều trị với ít nhất một liệu pháp trước đó.
Liều dùng/Hướng dẫn sử dụng
Việc điều trị phải được bắt đầu và theo dõi dưới sự giám sát của một bác sĩ có kinh nghiệm trong điều trị đa u tủy.
Liều lượng
Liều khởi đầu khuyến cáo của NINLARO là 4 mg dùng đường uống một lần mỗi tuần vào ngày thứ 1, 8 và 15 của chu kỳ điều trị 28 ngày.
Liều khởi đầu khuyến cáo của lenalidomide là 25 mg dùng hàng ngày vào ngày thứ 1 đến ngày thứ 21 của chu kỳ điều trị 28 ngày.
Liều khởi đầu khuyến cáo của dexamethasone là 40 mg dùng vào ngày thứ 1, 8, 15 và 22 của chu kỳ điều trị 28 ngày.
- xem Bảng 2

Image from Drug Label Content

Để biết thêm thông tin về lenalidomide và dexamethasone, tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm (SmPC) của những thuốc này.
Trước khi bắt đầu một chu kỳ điều trị mới:
• Số lượng bạch cầu tuyệt đối cần phải ≥ 1.000/mm3
• Số lượng tiểu cầu cần phải ≥ 75.000/mm3
• Các độc tính ngoài huyết học, theo sự suy xét của bác sĩ, thường nên được hồi phục về tình trạng ban đầu của bệnh nhân hoặc ≤ độ 1
Nên tiếp tục điều trị cho đến khi bệnh tiến triển xấu hoặc độc tính không thể chấp nhận được. Điều trị bằng NINLARO phối hợp với lenalidomide và dexamethasone trong thời gian lâu hơn 24 chu kỳ nên dựa trên đánh giá nguy cơ-lợi ích trên từng bệnh nhân vì dữ liệu về khả năng dung nạp và độc tính khi dùng quá 24 chu kỳ còn hạn chế (xem phần Dược lý, Dược lực học).
Trễ liều hoặc quên liều
Trong trường hợp trễ hoặc quên một liều NINLARO, chỉ nên dùng liều đó nếu thời gian đến liều kế tiếp theo dự định ≥ 72 giờ. Không nên dùng liều đã quên trong vòng 72 giờ của liều kế tiếp theo dự định. Không nên dùng liều gấp đôi để bù cho liều đã quên. Nếu bệnh nhân nôn sau khi dùng một liều, bệnh nhân không nên lặp lại liều đó mà nên dùng thuốc lại vào thời điểm liều kế tiếp theo dự định.
Điều chỉnh liều
Các bước giảm liều NINLARO được trình bày trong Bảng 3 và hướng dẫn điều chỉnh liều được cung cấp trong Bảng 4.
- xem Bảng 3

Image from Drug Label Content

Khuyến cáo dùng phương pháp điều chỉnh liều xen kẽ NINLARO và lenalidomide đối với những trường hợp độc tính chồng chéo về giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu trung tính và phát ban. Đối với những độc tính này, bước điều chỉnh liều đầu tiên là ngưng/giảm liều lenalidomide. Tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm của lenalidomide, phần Dược lý, Dược động học để biết các bước giảm liều đối với những độc tính này.
- xem Bảng 4

Image from Drug Label Content

Thuốc dùng đồng thời
Nên xem xét điều trị dự phòng kháng virus ở những bệnh nhân đang được điều trị bằng NINLARO để làm giảm nguy cơ tái hoạt virus herpes zoster. Các bệnh nhân được thu nhận vào nghiên cứu với NINLARO đã được điều trị dự phòng kháng virus có tỷ lệ nhiễm herpes zoster thấp hơn so với những bệnh nhân không được điều trị dự phòng.
Khuyến cáo điều trị dự phòng huyết khối ở những bệnh nhân đang được điều trị bằng NINLARO phối hợp với lenalidomide và dexamethasone và nên dựa trên đánh giá nguy cơ và tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.
Đối với các thuốc khác có thể cần dùng đồng thời, tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm hiện tại của lenalidomide và dexamethasone.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Người cao tuổi
Không cần điều chỉnh liều NINLARO đối với bệnh nhân trên 65 tuổi.
Việc ngừng điều trị ở bệnh nhân > 75 tuổi đã được báo cáo ở 13 bệnh nhân (28%) trong phác đồ NINLARO và 10 bệnh nhân (16%) trong phác đồ giả dược. Loạn nhịp tim ở bệnh nhân > 75 tuổi đã được quan sát thấy ở 10 bệnh nhân (21%) trong phác đồ NINLARO và 9 bệnh nhân (15%) trong phác đồ giả dược.
Suy gan
Không cần điều chỉnh liều NINLARO đối với bệnh nhân suy gan nhẹ (bilirubin toàn phần ≤ giới hạn trên của mức bình thường (ULN) và aspartate aminotransferase (AST) > ULN hoặc bilirubin toàn phần > 1-1,5 lần ULN và bất kỳ AST nào). Khuyến cáo dùng mức liều giảm là 3 mg ở những bệnh nhân suy gan trung bình (bilirubin toàn phần > 1,5-3 lần ULN) hoặc suy gan nặng (bilirubin toàn phần > 3 lần ULN) (xem phần Dược lý, Dược động học).
Suy thận
Không cần điều chỉnh liều NINLARO đối với bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình (độ thanh thải creatinin ≥ 30 mL/phút). Khuyến cáo dùng mức liều giảm là 3 mg ở bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 mL/phút) hoặc bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD) cần phải thẩm phân. NINLARO không thể thẩm phân được, do đó có thể được dùng mà không cần quan tâm đến thời gian thẩm phân (xem phần Dược lý, Dược động học).
Tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm của lenalidomide để biết về điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận.
Nhóm bệnh nhân trẻ em
Độ an toàn và hiệu quả của NINLARO ở trẻ em dưới 18 tuổi chưa được xác định. Hiện không có dữ liệu.
Cách dùng
NINLARO được dùng đường uống.
Nên dùng NINLARO vào khoảng cùng một thời điểm vào ngày thứ 1, 8 và 15 của mỗi chu kỳ điều trị, ít nhất 1 giờ trước hoặc ít nhất 2 giờ sau khi ăn (xem phần Dược lý, Dược động học). Nên uống nguyên cả viên nang với nước. Không được nghiền nát, nhai hoặc mở ra.
Chống chỉ định
Quá mẫn với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào được liệt kê trong phần Mô tả.
Vì NINLARO được dùng phối hợp với lenalidomide và dexamethasone, tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm của những thuốc này để biết thêm các chống chỉ định.
Cảnh báo và thận trọng
Vì NINLARO được dùng phối hợp với lenalidomide và dexamethasone, tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm của những thuốc này để biết thêm các cảnh báo và thận trọng đặc biệt khi sử dụng.
Giảm tiểu cầu
Giảm tiểu cầu đã được báo cáo với NINLARO (xem phần Tác dụng không mong muốn) với số lượng tiểu cầu ở mức thấp nhất thường xảy ra từ ngày 14-21 của mỗi chu kỳ 28 ngày và hồi phục về mức ban đầu vào lúc bắt đầu chu kỳ kế tiếp (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Cần theo dõi số lượng tiểu cầu ít nhất mỗi tháng trong khi điều trị bằng NINLARO. Nên xem xét theo dõi thường xuyên hơn trong 3 chu kỳ đầu tiên theo tóm tắt đặc tính sản phẩm của lenalidomide. Có thể xử trí giảm tiểu cầu bằng cách điều chỉnh liều (xem phần Liều lượng và cách dùng) và truyền tiểu cầu theo hướng dẫn y khoa chuẩn.
Độc tính đường tiêu hóa
Tiêu chảy, táo bón, buồn nôn và nôn đã được báo cáo với NINLARO, đôi khi đòi hỏi phải sử dụng thuốc chống nôn, thuốc chống tiêu chảy và điều trị hỗ trợ (xem phần Tác dụng không mong muốn). Nên điều chỉnh liều đối với các triệu chứng nặng (độ 3-4) (xem phần Liều lượng và cách dùng). Trong trường hợp có các biến cố dạ dày-ruột nặng, khuyến cáo theo dõi nồng độ kali huyết thanh.
Bệnh thần kinh ngoại biên
Bệnh thần kinh ngoại biên đã được báo cáo với NINLARO (xem phần Tác dụng không mong muốn). Cần theo dõi bệnh nhân về các triệu chứng của bệnh thần kinh ngoại biên. Những bệnh nhân có bệnh thần kinh ngoại biên mới hoặc xấu đi có thể cần phải thay đổi liều (xem phần Liều lượng và cách dùng).
Phù ngoại biên
Phù ngoại biên đã được báo cáo với NINLARO (xem phần Tác dụng không mong muốn). Cần đánh giá bệnh nhân về các nguyên nhân tiềm ẩn và cung cấp sự điều trị hỗ trợ, nếu cần thiết. Nên điều chỉnh liều dexamethasone theo thông tin kê đơn của dexamethasone hoặc liều NINLARO đối với các triệu chứng độ 3 hoặc 4 (xem phần Liều lượng và cách dùng).
Phản ứng da
Phát ban đã được báo cáo với NINLARO (xem phần Tác dụng không mong muốn). Nên xử trí phát ban bằng điều trị hỗ trợ hoặc điều chỉnh liều nếu từ độ 2 trở lên (xem phần Liều lượng và cách dùng). Hội chứng Stevens-Johnson cũng được báo cáo với ixazomib (xem phần Tác dụng không mong muốn). Nếu xuất hiện hội chứng Stevens-Johnson, ngừng sử dụng ixazomib.
Bệnh vi mạch huyết khối
Các trường hợp bị vi mạch huyết khối (thrombotic microangiopathy - TMA), bao gồm cả ban xuất huyết giảm tiểu cầu huyết khối (thrombotic thrombocytopenic purpura - TTP), đã được báo cáo ở bệnh nhân dùng ixazomib. Một số trường hợp gây tử vong. Các triệu chứng và hội chứng của TMA cần được kiểm soát. Nếu có nghi ngờ trong chẩn đoán, ngừng dùng ixazomib để đánh giá xem liệu bệnh nhân có bị TMA không. Nếu việc chẩn đoán TMA được loại trừ, có thể dùng lại ixazomib. Tính an toàn của việc tái sử dụng lại ixazomib ở bệnh nhân trước đay đã từng bị TMA chưa được biết đến.
Độc tính đối với gan
Tổn thương gan do thuốc, tổn thương tế bào gan, gan nhiễm mỡ, viêm gan ứ mật và độc tính đối với gan ít gặp đã được báo cáo với NINLARO (xem phần Tác dụng không mong muốn). Nên theo dõi thường xuyên các men gan và cần điều chỉnh liều đối với các triệu chứng độ 3 hoặc 4 (xem phần Liều lượng và cách dùng).
Phụ nữ có thai
Phụ nữ nên tránh mang thai trong khi điều trị bằng NINLARO. Nếu dùng NINLARO trong khi mang thai hoặc nếu bệnh nhân có thai trong khi dùng NINLARO, bệnh nhân cần được biết về nguy cơ tiềm ẩn đối với thai.
Phụ nữ có khả năng mang thai phải sử dụng biện pháp tránh thai có hiệu quả cao trong khi dùng NINLARO và trong 90 ngày sau khi ngừng điều trị (xem phần Tương tácSử dụng ở phụ nữ có thai và cho con bú). Phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai hormon nên sử dụng thêm biện pháp tránh thai bằng màng ngăn.
Hội chứng rối loạn tuần hoàn não phần sau có hồi phục
Hội chứng rối loạn tuần hoàn não sau có hồi phục (PRES) đã xảy ra ở những bệnh nhân dùng NINLARO. Hội chứng rối loạn tuần hoàn não sau có hồi phục là một rối loạn thần kinh hiếm gặp, có hồi phục, có thể hiện diện với cơn động kinh, tăng huyết áp, nhức đầu, thay đổi ý thức và rối loạn thị giác. Chụp hình ảnh não, tốt nhất là chụp cộng hưởng từ, được sử dụng để xác định chẩn đoán. Ở bệnh nhân phát triển hội chứng rối loạn tuần hoàn não sau có hồi phục, ngừng điều trị bằng NINLARO.
Thuốc gây cảm ứng mạnh CYP3A
Các thuốc gây cảm ứng mạnh có thể làm giảm hiệu quả của NINLARO, do đó nên tránh dùng đồng thời các thuốc gây cảm ứng mạnh CYP3A như carbamazepine, phenytoin, rifampicin và St. John’s Wort (Hypericum perforatum) (xem phần Tương tácDược lý, Dược động học). Theo dõi bệnh nhân chặt chẽ để kiểm soát bệnh nếu không thể tránh được việc điều trị đồng thời với thuốc gây cảm ứng mạnh CYP3A.
Tác động trên khả năng lái xe và vận hành máy móc
NINLARO có ảnh hưởng nhỏ đến khả năng lái xe hoặc vận hành máy móc. Mệt mỏi và chóng mặt đã được quan sát thấy trong các thử nghiệm lâm sàng. Nên khuyên bệnh nhân không lái xe hoặc vận hành máy móc nếu họ gặp bất kỳ triệu chứng nào trong số những triệu chứng này.
Sử dụng ở phụ nữ có thai & cho con bú
Vì NINLARO được dùng phối hợp với lenalidomide và dexamethasone, tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm của những thuốc này để biết thêm thông tin đối với khả năng sinh sản, phụ nữ có thai và cho con bú.
Phụ nữ có khả năng mang thai/Tránh thai ở nam và nữ
Bệnh nhân nam và nữ có khả năng có con phải sử dụng các biện pháp tránh thai có hiệu quả trong khi và trong 90 ngày sau khi điều trị. Không khuyến cáo dùng NINLARO ở phụ nữ có khả năng mang thai không sử dụng biện pháp tránh thai.
Khi dùng NINLARO cùng với dexamethasone - đã biết là chất gây cảm ứng yếu đến trung bình của CYP3A4 cũng như các enzym và chất vận chuyển khác, cần xem xét nguy cơ giảm hiệu quả của thuốc tránh thai. Do đó phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai hormon nên sử dụng thêm biện pháp tránh thai bằng màng ngăn.
Phụ nữ có thai
Không khuyến cáo dùng NINLARO trong thời kỳ mang thai vì thuốc có thể gây hại cho thai khi dùng cho phụ nữ có thai. Do đó, phụ nữ nên tránh mang thai trong khi đang được điều trị bằng NINLARO.
Không có dữ liệu về việc sử dụng NINLARO ở phụ nữ có thai. Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy độc tính đối với sinh sản (xem phần Dược lý, Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng).
NINLARO được dùng phối hợp với lenalidomide. Lenalidomide có cấu trúc liên quan đến thalidomide. Thalidomide là một hoạt chất đã biết gây quái thai ở người, nó gây ra những dị tật bẩm sinh nặng đe dọa tính mạng. Nếu lenalidomide được dùng trong khi mang thai, có dự kiến là nó có tác dụng gây quái thai ở người. Các điều kiện của Chương trình phòng ngừa mang thai đối với lenalidomide phải được thực hiện cho tất cả các bệnh nhân trừ khi có bằng chứng đáng tin cậy rằng bệnh nhân không có khả năng mang thai.
Xin tham khảo tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm hiện tại của lenalidomide.
Cho con bú
Chưa rõ liệu NINLARO hoặc các chất chuyển hóa của nó có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. Hiện không có dữ liệu trên động vật. Không thể loại trừ nguy cơ đối với trẻ sơ sinh/trẻ nhỏ và do đó nên ngừng cho con bú.
NINLARO sẽ được dùng phối hợp với lenalidomide và do việc sử dụng lenalidomide nên ngừng cho con bú.Khả năng sinh sảnCác nghiên cứu về khả năng sinh sản chưa được tiến hành với NINLARO (xem phần Dược lý, Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng).
Tương tác
Tương tác dược động học
Thuốc ức chế CYP
Dùng đồng thời ixazomib với clarithromycin - thuốc ức chế mạnh CYP3A, đã không dẫn đến thay đổi có ý nghĩa lâm sàng về nồng độ toàn thân của ixazomib. Cmax (nồng độ tối đa trong huyết tương) của ixazomib giảm 4% và AUC (diện tích dưới đường cong) của ixazomib tăng 11%. Do đó không cần điều chỉnh liều khi dùng đồng thời ixazomib với thuốc ức chế mạnh CYP3A. Dùng đồng thời ixazomib với thuốc ức chế mạnh CYP1A2 đã không dẫn đến thay đổi có ý nghĩa lâm sàng về nồng độ toàn thân của ixazomib dựa trên kết quả phân tích dược động học (PK) quần thể. Do đó không cần điều chỉnh liều khi dùng đồng thời ixazomib với thuốc ức chế mạnh CYP1A2.
Thuốc gây cảm ứng CYP
Dùng đồng thời ixazomib với rifampicin đã làm giảm Cmax của ixazomib 54% và giảm AUC 74%. Do đó khuyến cáo không nên dùng đồng thời thuốc gây cảm ứng mạnh CYP3A với ixazomib (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Ảnh hưởng của ixazomib đến các thuốc khác
Ixazomib không phải là chất ức chế có hồi phục hoặc chất ức chế phụ thuộc thời gian của CYP 1A2, 2B6, 2C8, 2C9, 2C19, 2D6 hoặc 3A4/5. Ixazomib không gây cảm ứng hoạt tính của CYP1A2, CYP2B6 và CYP3A4/5 hoặc các nồng độ protein có phản ứng miễn dịch tương ứng. Ixazomib không được dự kiến là gây ra tương tác thuốc-thuốc thông qua sự ức chế hoặc gây cảm ứng CYP.
Các tương tác dựa trên chất vận chuyển
Ixazomib là cơ chất có ái lực thấp của P-gp (P-glycoprotein). Ixazomib không phải là cơ chất của BCRP (protein kháng ung thư vú - breast cancer resistance protein), MRP (protein liên quan đến kháng đa thuốc - multidrug resistance-associated protein)2 hoặc OATP (polypeptide vận chuyển anion hữu cơ - organic anion transporting polypeptide) ở gan. Ixazomib không phải là chất ức chế P-gp, BCRP, MRP2, OATP 1B1, OATP1B3, OCT (chất vận chuyển cation hữu cơ - organic cation transporter)2, OAT1, OAT3, MATE1 (multidrug and toxin extrusion protein 1) hoặc MATE2-K. Ixazomib không được dự kiến gây ra tương tác thuốc-thuốc qua trung gian chất vận chuyển.
Thuốc tránh thai đường uống
Khi dùng NINLARO cùng với dexamethasone - đã biết là chất gây cảm ứng yếu đến trung bình của CYP3A4 cũng như các enzym và chất vận chuyển khác, cần xem xét nguy cơ giảm hiệu quả của thuốc tránh thai. Phụ nữ sử dụng thuốc tránh thai hormon nên sử dụng thêm biện pháp tránh thai bằng màng ngăn.
Tương kỵ
Không áp dụng.
Tác dụng không mong muốn
Vì NINLARO được dùng phối hợp với lenalidomide và dexamethasone, tham khảo tóm tắt đặc tính sản phẩm của những thuốc này để biết thêm về các tác dụng không mong muốn.
Tóm tắt hồ sơ về an toàn
Dữ liệu được trình bày dưới đây là dữ liệu gộp về an toàn từ nghiên cứu then chốt, pha 3, toàn cầu C16010 (n = 720) và nghiên cứu tiếp theo mù đôi, đối chứng với giả dược C16010 ở Trung Quốc (n = 115). Các phản ứng bất lợi thường gặp nhất được báo cáo (≥ 20%) ở 417 bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ NINLARO và 418 bệnh nhân được điều trị bằng phác đồ giả dược là tiêu chảy (39% so với 32%), giảm tiểu cầu (33% so với 21%), giảm bạch cầu trung tính (33% so với 30%), táo bón (30% so với 22%), bệnh thần kinh ngoại biên (25% so với 20%), buồn nôn (23% so với 18%), phù ngoại biên (23% so với 17%), nôn (20% so với 10%) và nhiễm trùng đường hô hấp trên (21% so với 16%). Các phản ứng bất lợi nghiêm trọng được báo cáo ở ≥ 2% bệnh nhân bao gồm giảm tiểu cầu (2%) và tiêu chảy (2%).
Bảng liệt kê các phản ứng bất lợi
Quy ước sau đây được sử dụng để phân loại tần suất của một phản ứng bất lợi của thuốc (ADR): rất thường gặp (≥ 1/10); thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10); ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100); hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000); rất hiếm gặp (< 1/10.000); không rõ (không thể ước tính từ các dữ liệu hiện có). Trong mỗi nhóm hệ cơ quan, các phản ứng bất lợi của thuốc được sắp xếp theo tần suất, đầu tiên là các phản ứng thường gặp nhất. Trong mỗi nhóm tần suất, các phản ứng bất lợi được trình bày theo thứ tự mức độ nghiêm trọng giảm dần.
- xem Bảng 5

Image from Drug Label Content

Mô tả các phản ứng bất lợi chọn lọc
Ngừng dùng thuốc
Đối với mỗi phản ứng bất lợi, một hoặc nhiều hơn trong số 3 thuốc đã được ngừng sử dụng ở  ≤ 1% bệnh nhân trong phác đồ NINLARO.
Giảm tiểu cầu
2% bệnh nhân trong cả phác đồ NINLARO và phác đồ giả dược đã có số lượng tiểu cầu ≤ 10.000/mm3 trong khi điều trị. Dưới 1% bệnh nhân ở cả hai phác đồ đã có số lượng tiểu cầu ≤ 5.000/mm3 trong khi điều trị. Giảm tiểu cầu đã dẫn đến ngừng dùng một hoặc nhiều hơn trong số 3 thuốc ở 2% bệnh nhân trong phác đồ NINLARO và 3% bệnh nhân trong phác đồ giả dược. Giảm tiểu cầu đã không dẫn đến tăng biến cố xuất huyết hoặc phải truyền tiểu cầu.
Độc tính đường tiêu hóa
Tiêu chảy đã dẫn đến ngừng dùng một hoặc nhiều hơn trong số 3 thuốc ở 1% bệnh nhân trong phác đồ NINLARO và < 1% bệnh nhân trong phác đồ giả dược.
Phát ban
Phát ban xảy ra ở 18% bệnh nhân trong phác đồ NINLARO so với 10% bệnh nhân trong phác đồ giả dược. Loại phát ban thường gặp nhất đã được báo cáo trong cả hai phác đồ là ban dát sần và ban dát. Phát ban độ 3 đã được báo cáo ở 2% bệnh nhân trong phác đồ NINLARO so với 1% bệnh nhân trong phác đồ giả dược. Phát ban đã dẫn đến ngừng dùng một hoặc nhiều hơn trong số 3 thuốc ở < 1% bệnh nhân trong cả hai phác đồ.
Bệnh thần kinh ngoại biên
Bệnh thần kinh ngoại biên đã xảy ra ở 28% bệnh nhân trong phác đồ NINLARO so với 22% bệnh nhân trong phác đồ giả dược. Phản ứng bất lợi bệnh thần kinh ngoại biên độ 3 đã được báo cáo ở 2% bệnh nhân dùng ixazomib so với 1% bệnh nhân dùng giả dược. Phản ứng thường gặp nhất đã được báo cáo là bệnh thần kinh cảm giác ngoại biên (21% trong phác đồ NINLARO và 15% trong phác đồ giả dược). Bệnh thần kinh vận động ngoại biên không thường gặp đã được báo cáo ở cả hai phác đồ (<1%). Bệnh thần kinh ngoại biên dẫn đến ngừng dùng một hoặc nhiều hơn trong số 3 thuốc ở 3% bệnh nhân trong phác đồ NINLARO so với <1% bệnh nhân trong phác đồ giả dược.
Rối loạn mắt
Rối loạn mắt đã được báo cáo với nhiều thuật ngữ ưu tiên khác nhau nhưng tính tổng số, tần suất là 34% ở những bệnh nhân trong phác đồ NINLARO và 28% bệnh nhân trong phác đồ giả dược. Các phản ứng bất lợi thường gặp nhất là nhìn mờ (6% trong phác đồ NINLARO và 5% trong phác đồ giả dược), khô mắt (6% trong phác đồ NINLARO và 1% trong phác đồ giả dược), viêm kết mạc (8% trong phác đồ NINLARO và 2% trong phác đồ giả dược) và đục thủy tinh thể (13% trong phác đồ NINLARO và 17% trong phác đồ giả dược). Các phản ứng bất lợi độ 3 đã được báo cáo ở 6% bệnh nhân dùng ixazomib so với 8% bệnh nhân dùng giả dược.
Các phản ứng bất lợi khác
Ngoài các nghiên cứu pha 3, các phản ứng bất lợi nghiêm trọng sau đây hiếm khi được báo cáo: bệnh da ưa bạch cầu trung tính có sốt cấp tính (hội chứng Sweet), hội chứng Stevens-Johnson, viêm tủy ngang, hội chứng rối loạn não sau có hồi phục và hội chứng phân giải khối u.
Trong bộ dữ liệu gộp từ nghiên cứu then chốt, pha 3 toàn cầu C16010 (n = 720) và nghiên cứu tiếp theo mù đôi, đối chứng với giả dược C16010 ở Trung Quốc (n = 115), các phản ứng bất lợi sau đây xảy ra với tỷ lệ tương tự giữa phác đồ NINLARO và phác đồ giả dược: mệt mỏi (28% so với 26%), giảm sự ngon miệng (13% so với 11%), hạ huyết áp (5% so với 4%), suy tim (5% mỗi biến cố), loạn nhịp (17% so với 16%) và suy gan bao gồm thay đổi về enzym (11% so với 9%).
Tần suất các biến cố hạ kali máu nặng (độ 3-4) cao hơn trong phác đồ NINLARO (7%) so với phác đồ giả dược (2%).
Viêm phổi do nấm và do virus dẫn đến kết cuộc tử vong hiếm gặp đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng phối hợp NINLARO, lenalidomide và dexamethasone.
Thuật ngữ chuẩn theo MedDRA Query (Standardised MedDRA Queries, SMQ)
Báo cáo các phản ứng bất lợi nghi ngờ
Báo cáo các phản ứng bất lợi nghi ngờ sau khi có giấy phép lưu hành thuốc là điều quan trọng. Điều này cho phép theo dõi liên tục cân bằng lợi ích/nguy cơ của thuốc. Các chuyên viên y tế được yêu cầu báo cáo bất kỳ phản ứng bất lợi nghi ngờ nào qua hệ thống báo cáo quốc gia được liệt kê trong Phụ lục V.
Quá liều
Quá liều đã được báo cáo ở bệnh nhân dùng NINLARO. Các triệu chứng của quá liều là phù hợp với những nguy cơ đã biết khi dùng NINLARO (xem phần Tác dụng không mong muốn). Quá liều ở mức 12 mg (dùng 1 lần) gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng như nôn nhiều, viêm phổi hít, suy đa tạng và tử vong.
Không có thuốc giải độc đặc hiệu được biết đối với quá liều NINLARO. Trong trường hợp quá liều, theo dõi chặt chẽ bệnh nhân về các phản ứng bất lợi (phần Tác dụng không mong muốn) và cung cấp điều trị hỗ trợ thích hợp. Ixazomib không thể thẩm tách được (xem phần Dược lý, Dược động học).
Quá liều thường hay gặp ở bệnh bắt đầu điều trị với NINLARO. Tầm quan trọng của việc tuân thủ chặt chẽ chỉ dẫn về liều dùng cần được thảo luận kỹ với những bệnh nhân bắt đầu điều trị. Hướng dẫn bệnh nhân dùng đúng liều khuyến cáo do quá liều có thể dẫn đến tử vong.
Thận trọng lúc dùng
Thận trọng đặc biệt khi hủy bỏ và xử lý khác
NINLARO gây độc tế bào. Không nên lấy viên nang ngay trước khi dùng thuốc. Không nên mở hoặc nghiền nát viên nang. Phải tránh tiếp xúc trực tiếp với các chất chứa trong viên nang. Trong trường hợp viên nang bị vỡ, tránh gây bụi trong khi dọn dẹp. Nếu tiếp xúc xảy ra, rửa kỹ bằng xà phòng và nước.
Bất kỳ phần thuốc nào không dùng hoặc vật liệu thải đi phải được hủy bỏ theo quy định của địa phương.
Bảo quản
Không bảo quản trên 30oC. Không để đông lạnh.
Giữ thuốc trong bao bì gốc để tránh ẩm.
Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
Phân loại MIMS
Liệu pháp nhắm trúng đích
Phân loại ATC
L01XG03 - ixazomib ; Belongs to the class of proteasome inhibitors. Used in the treatment of cancer.
Trình bày/Đóng gói
Dạng
Ninlaro 2,3 mg Viên nang cứng 2,3 mg
Trình bày/Đóng gói
3 × 1 × 1's
Dạng
Ninlaro 3 mg Viên nang cứng 3 mg
Trình bày/Đóng gói
3 × 1 × 1's
Dạng
Ninlaro 4 mg Viên nang cứng 4 mg
Trình bày/Đóng gói
3 × 1 × 1's