Sofosbuvir là tiền chất nucleotid được chuyển hóa rộng rãi. Chất chuyển hóa hoạt động hình thành trong tế bào gan, không xuất hiện trong huyết tương. Chất chuyển hóa chính là GS-331007 (> 90%) không có hoạt tính. Chất chuyển hóa không có hoạt tính được hình thành tuần tự và song song với chất chuyển hóa có hoạt tính.
Hấp thu
Dược động học của sofosbuvir và chất chuyển hóa chính GS-331007 được nghiên cứu ở người lớn khỏe mạnh và bệnh nhân viêm gan C mãn tính. Sau khi uống, sofosbuvir được hấp thu nhanh chóng, nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau khoảng 0,5-2 giờ. Nồng độ đỉnh trong huyết tương của chất chuyển hóa GS-331007 đạt được sau 2-4 giờ. Dựa trên dữ liệu dược động học thu được ở bệnh nhân nhiễm HCV kiểu gen 1 đến 6 (n = 986), AUC của sofosbuvir và GS-331007 lần lượt là 1.010 ng.h/mL và 7.200 ng.h/mL. Ở người khỏe mạnh (n = 284), AUC của sofosbuvir và GS-331007 lần lượt là cao hơn 57% và thấp hơn 39% so với bệnh nhân nhiễm HCV.
Ảnh hưởng của thức ăn
Khi uống liều duy nhất sofosbuvir với bữa ăn giàu chất béo, tỷ lệ sofosbuvir được hấp thu giảm. Mức độ hấp thu của sofosbuvir tăng khoảng 1,8 lần, ít ảnh hưởng đến nồng độ đỉnh. Phơi nhiễm với GS-331007 không bị thay đổi khi dùng với bữa ăn nhiều chất béo.
Phân bố
Sofosbuvir không là cơ chất của protein vận chuyển ở gan, polypeptid vận chuyển anion hữu cơ (OATP) 1B1 hoặc 1B3, polypeptid vận chuyển cation hữu cơ (OCT) 1. Khi bài tiết qua ống thận, GS-331007 không phải là cơ chất của protein vận chuyển ở thận như chất vận chuyển anion hữu cơ (OAT) 1 hoặc 3, OCT2, MRP2, P-gp, BCRP hoặc MATE1. Sofosbuvir và GS-331007 không ức chế vận chuyển thuốc qua P-gp, BCRP, MRP2, BSEP, OATP1B1, OATP1B3, OCT1. GS-331007 không ức chế OAT1, OCT2, MATE1.
Sofosbuvir gắn với protein huyết tương khoảng 85% (dữ liệu
ex vivo) và không phụ thuộc vào nồng độ thuốc trong khoảng 1-20 µg/mL. GS-331007 liên kết ít với protein huyết tương. Ở người khỏe mạnh, sau khi uống liều duy nhất 400 mg sofosbuvir gắn
14C, tỷ lệ
14C trong máu khoảng 0,7.
Chuyển hóa
Sofosbuvir chuyển hóa qua gan thành dạng dẫn xuất triphosphat nucleosid có hoạt tính dược lý là GS-461203. Con đường hoạt hóa chuyển hóa liên quan tới quá trình thủy phân nối tiếp nhau của phần carboxyl ester xúc tác bởi cathepsin A (CatA) hoặc carboxylesterase 1 (CES1), phân cắt phosphoramid bởi protein 1 liên kết nucleotid có bộ 3 acid amin histidin (HINT1), sau đó phosphoryl hóa bằng con đường sinh tổng hợp nucleotid pyrimidin. Kết quả của quá trình dephosphoryl hóa tạo thành chất chuyển hóa nucleosid GS-331007, chất này không thể tái phosphoryl hóa hiệu quả và không có hoạt tính kháng HCV
in vitro. Sofosbuvir và GS-331007 không là cơ chất hay chất ức chế enzym UGT1A1 hoặc CYP3A4, CYP1A2, CYP2B6, CYP2C8, CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6.
Sau khi uống liều duy nhất 400 mg sofosbuvir có gắn
14C, sofosbuvir và GS-331007 chiếm khoảng 4% và > 90% các chất liên quan đến thuốc (tổng AUC được điều chỉnh theo trọng lượng phân tử của sofosbuvir và các chất chuyển hóa của nó).
Thải trừ
Sau khi uống liều duy nhất 400 mg sofosbuvir có gắn
14C, tổng lượng thu hồi xấp xỉ 92% bao gồm lần lượt 80%, 14%, 2,5% trong nước tiểu, trong phân và hơi thở. Phần lớn liều sofosbuvir thu hồi trong nước tiểu là GS-331007 (78%), khoảng 3,5% được thu hồi dưới dạng sofosbuvir. Dữ liệu này cho thấy thanh thải qua thận là đường đào thải chính của GS-331007. Thời gian bán thải trung bình của sofosbuvir và GS-331007 lần lượt là 0,4 giờ và 27 giờ.
Tính tuyến tính
Tính tuyến tính theo liều của sofosbuvir và chất chuyển hóa GS-331007 được nghiên cứu trên đối tượng khỏe mạnh. AUC của sofosbuvir và chất chuyển hóa GS-331007 tỷ lệ với liều dùng trong khoảng liều 200-400 mg.
Giới tính và chủng tộc
Không có sự khác biệt về dược động học liên quan đến lâm sàng do giới tính hoặc chủng tộc đã được xác định đối với sofosbuvir và GS-331007.
Người cao tuổi
Dữ liệu phân tích dược động học ở bệnh nhân nhiễm HCV trong khoảng 19-75 tuổi cho thấy không có mối liên quan có ý nghĩa lâm sàng giữa tuổi và phơi nhiễm sofosbuvir và GS-331007. Nghiên cứu lâm sàng sử dụng sofosbuvir ở 65 bệnh nhân 65 tuổi trở lên, tỷ lệ đáp ứng tương tự với bệnh nhân trẻ.
Suy thận
Ảnh hưởng của suy thận đến phơi nhiễm sofosbuvir và chất chuyển hóa GS-331007 so sánh với bệnh nhân có chức năng thận bình thường được tóm tắt trong bảng sau:
- xem Bảng 1.

Dược động học của sofosbuvir được nghiên cứu ở bệnh nhân âm tính với HCV suy thận nhẹ (50 ≤ eGRF < 80 mL/phút/1,73 m
2), trung bình (30 ≤ eGRF < 50 mL/phút/1,73 m
2), nặng (eGRF < 30 mL/phút/1,73 m
2) và bệnh nhân ESRD yêu cầu thẩm tách máu sử dụng liều duy nhất 400 mg, so sánh với bệnh nhân có chức năng thận bình thường (eGRF > 80 mL/phút/1,73 m
2). Thẩm tách máu có thể loại bỏ tốt (khoảng 53%) chất chuyển hóa GS-331007. Sau 4 giờ thẩm tách máu, khoảng 18% liều dùng được thải trừ.
Ở bệnh nhân suy thận nặng nhiễm HCV sử dụng sofosbuvir 200 mg với ribavirin (n = 10) hoặc sofosbuvir 400 mg với ribavirin (n = 10) trong 24 tuần hoặc ledipasvir/sofosbuvir 90/400 mg (n = 18) trong 12 tuần, dược động học của sofosbuvir và GS-331007 tương tự với bệnh nhân suy thận nặng âm tính với HCV.
Dược động học của sofosbuvir và GS-331007 được nghiên cứu ở bệnh nhân nhiễm HCV suy thận giai đoạn cuối yêu cầu thẩm tách máu sử dụng ledipasvir/sofosbuvir (n = 94) trong 8, 12, 24 tuần hoặc sofosbuvir/velpatasvir (n = 59) trong 12 tuần, so sánh với bệnh nhân không suy thận trong nghiên cứu giai đoạn 2/3.
Suy gan
Dược động học của sofosbuvir được nghiên cứu trong 7 ngày ở bệnh nhân nhiễm HCV suy gan trung bình hoặc nặng (CPT nhóm B và C). So với bệnh nhân có chức năng gan bình thường, AUC của sofosbuvir cao hơn tương ứng 126%, 143% ở bệnh nhân suy gan trung bình và suy gan nặng, trong khi AUC của GS-331007 cao hơn tương ứng 18%, 9%. Phân tích dược động học ở bệnh nhân nhiễm HCV chỉ ra rằng xơ gan không ảnh hưởng đến phơi nhiễm sofosbuvir và GS-331007 trên lâm sàng. Không cần chỉnh liều sofosbuvir ở bệnh nhân suy gan nhẹ, trung bình và nặng.
Trẻ em
Phơi nhiễm sofosbuvir và chất chuyển hóa GS-331007 ở trẻ em ≥ 3 tuổi tương tự như người lớn từ nghiên cứu giai đoạn 2/3 sử dụng sofosbuvir. Dược động học của sofosbuvir và chất chuyển hóa GS-331007 chưa được thiết lập ở trẻ em dưới 3 tuổi.
Mối quan hệ dược động/dược lực
Hiệu quả đáp ứng virus nhanh chóng đã được chứng minh là có tương quan với phơi nhiễm sofosbuvir cũng như GS-331007. Tuy nhiên, cả hai chất này đều không được chứng minh là một dấu hiệu thay thế cho hiệu quả (SVR12) ở liều điều trị 400 mg.