Stelara 45mg

Stelara 45mg Dược động học

ustekinumab

Nhà sản xuất:

Cilag AG

Nhà tiếp thị:

Johnson & Johnson
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược động học
Hấp thu
Thời gian trung vị để thuốc đạt được nồng độ tối đa trong huyết thanh (tmax) là 8,5 ngày sau khi tiêm dưới da liều đơn 90 mg trên người khỏe mạnh. Giá trị tmax trung vị của ustekinumab sau một liều đơn 45 mg hoặc 90 mg tiêm dưới da ở những bệnh nhân vẩy nến tương đương với tmax trung vị trên người khỏe mạnh.
Ở những bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến, sinh khả dụng tuyệt đối của ustekinumab khi tiêm dưới da một liều đơn là khoảng 57,2%.
Phân bố
Trung vị của thể tích phân bố trong giai đoạn cuối (Vz) sau khi tiêm tĩnh mạch một liều đơn trên bệnh nhân vẩy nến nằm trong khoảng 57 đến 83 mL/kg.
Chuyển hóa
Chưa biết rõ con đường chuyển hóa của ustekinumab.
Thải trừ
Ở bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến, trung vị của hệ số thanh thải toàn thân (CL) sau khi tiêm tĩnh mạch một liều duy nhất nằm trong khoảng từ 1,99 đến 2,34 mL/ngày/kg cân nặng. Ở bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến, viêm khớp vẩy nến hoặc bệnh Crohn, trung vị thời gian bán thải (t1/2) của ustekinumab xấp xỉ 3 tuần, dao động trong khoảng từ 15 đến 32 ngày trong tất cả các nghiên cứu về bệnh vẩy nến và viêm khớp vẩy nến. Trong một phân tích dược động học theo quần thể, hệ số thanh thải biểu kiến (CL/F) và thể tích phân bố biểu kiến (V/F) lần lượt là 0,465 L/ngày và 15,7 L ở bệnh nhân vẩy nến. Hệ số thanh thải biểu kiến CL/F của ustekinumab không bị ảnh hưởng bởi giới tính. Phân tích dược động học theo quần thể cho thấy có xu hướng thải trừ ustekinumab nhiều hơn ở những bệnh nhân có xét nghiệm kháng thể kháng ustekinumab dương tính.
Khoảng tuyến tính của liều dùng
Ở những bệnh nhân mắc bệnh vẩy nến, phơi nhiễm toàn thân của ustekinumab (Cmax và AUC) tăng tỷ lệ với liều dùng khi tiêm tĩnh mạch một liều đơn nằm trong khoảng từ 0,09 mg/kg đến 4,5 mg/kg hoặc sau khi tiêm dưới da các liều đơn dao động từ 24 mg đến 240 mg.
So sánh giữa đơn liều và đa liều
Đặc tính nồng độ trong huyết thanh theo thời gian của ustekinumab nhìn chung có thể dự đoán được sau khi tiêm thuốc dưới da theo chế độ đơn liều hoặc đa liều. Ở bệnh nhân vẩy nến, nồng độ ustekinumab trong huyết thanh đạt trạng thái ổn định vào tuần 28 sau khi tiêm dưới da các liều ban đầu tại Tuần 0 và Tuần 4, và các liều tiếp theo mỗi 12 tuần. Trung vị nồng độ đáy ở trạng thái ổn định nằm trong khoảng 0,21 mcg/mL đến 0,26 mcg/mL (liều 45 mg) và 0,47 mcg/mL đến 0,49 mcg/mL (liều 90 mg). Khi dùng thuốc tiêm dưới da mỗi 12 tuần, không nhận thấy sự tích lũy rõ rệt về nồng độ ustekinumab trong huyết thanh theo thời gian điều trị.
Ở bệnh nhân mắc bệnh Crohn, sau khi tiêm tĩnh mạch liều ~6 mg/kg, bắt đầu tại tuần 8, tiêm dưới da liều duy trì ustekinumab 90 mg mỗi 8 hoặc 12 tuần. Nồng độ ustekinumab ở trạng thái ổn định đạt được khi bắt đầu liều duy trì lần hai. Trung vị nồng độ đáy ở trạng thái ổn định trong khoảng 1,97 mcg/mL đến 2,24 mcg/mL và từ 0,61 mcg/mL đến 0,76 mcg/mL cho ustekinumab 90 mg mỗi 8 tuần hoặc mỗi 12 tuần tương ứng. Nồng độ đáy ở trạng thái ổn định của liều ustekinumab 90 mg mỗi 8 tuần cho thấy tỷ lệ thuyên giảm lâm sàng cao hơn so với nồng độ đáy ở trạng thái ổn định của liều ustekinumab 90 mg mỗi 12 tuần.
Ảnh hưởng của khối lượng cơ thể đối với dược động học
Trong một phân tích dược động học theo quần thể sử dụng dữ liệu từ các bệnh nhân bị vẩy nến, thể trọng được chứng minh là đồng tham số quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự thanh thải ustekinumab. Trung vị hệ số thanh thải CL/F ở những bệnh nhân cân nặng >100 kg đã cao hơn khoảng 55% so với những bệnh nhân cân nặng ≤100 kg. Trung vị giá trị V/F của những bệnh nhân cân nặng >100 kg đã cao hơn khoảng 37% so với những bệnh nhân cân nặng ≤100 kg. Trung vị nồng độ đáy của ustekinumab trong huyết thanh ở bệnh nhân nặng cân hơn (>100 kg) của nhóm dùng liều 90 mg đã có giá trị tương đương với các trị số của những bệnh nhân nhẹ cân hơn (≤100 kg) trong nhóm dùng liều 45 mg. Các kết quả tương tự được lấy từ phân tích xác nhận dữ liệu dược động học theo quần thể bằng cách sử dụng dữ liệu từ các bệnh nhân bị viêm khớp vẩy nến.
Đối tượng đặc biệt
Không có dữ liệu dược động học trên những bệnh nhân suy thận hoặc suy gan. Không có các nghiên cứu chuyên biệt được thực hiện trên bệnh nhân cao tuổi.
Dược động học của ustekinumab nói chung giống nhau giữa bệnh nhân người Châu Á và không phải Châu Á bị bệnh vẩy nến.
Ở bệnh nhân mắc bệnh Crohn, giá trị biến thiên của sự thanh thải ustekinumab bị ảnh hưởng bởi cân nặng, nồng độ albumin huyết thanh, CRP, tình trạng thất bại đối kháng TNF, giới tính, chủng tộc (Châu Á so với không phải Châu Á), và tình trạng kháng thể kháng ustekinumab trong đó cân nặng là yếu tố đồng biến chính ảnh hưởng tới thể tích phân bố. Dùng đồng thời với các chất điều hòa miễn dịch không gây ảnh hưởng đáng kể đến sự phân bố ustekinumab. Tác động của những tác nhân đồng biến có ý nghĩa thống kê đáng kể trên các thông số dược động học tương ứng trong khoảng ± 20% khi đánh giá trên khoảng đại diện giá trị đồng biến hoặc phân loại dữ liệu trong khoảng giá trị biến thiên tổng thể ghi nhận được trong dược động học của ustekinumab.
Trong phân tích dược động học theo quần thể, không có các dấu hiệu về tác dụng của thuốc lá hoặc rượu lên dược động học của ustekinumab.
Nồng độ ustekinumab trong huyết thanh của bệnh nhân nhi bị vẩy nến tuổi từ 12 đến 17 được điều trị với liều khuyến cáo tính theo cân nặng nhìn chung là tương tự như ở đối tượng người lớn bị bệnh vẩy nến được điều trị với liều cho người lớn, trong khi đó nồng độ ustekinumab trong huyết thanh ở bệnh nhân nhi bị vẩy nến điều trị với nửa liều khuyến cáo tính theo cân nặng nhìn chung là thấp hơn trên bệnh nhân người lớn tương ứng.
Điều hòa các enzyme CYP450
Các tác dụng của IL-12 hoặc IL-23 lên sự điều hòa của các enzyme CYP450 đã được đánh giá trong một nghiên cứu in vitro sử dụng tế bào gan người. Nghiên cứu này cho thấy IL-12 và/hoặc IL-23 ở mức 10 ng/mL không làm thay đổi các hoạt động của enzyme CYP450 ở người (CYP1A2, 2B6, 2C9, 2C19, 2D6, hoặc 3A4, xem Tương tác).