Feiba

Feiba Cảnh báo và thận trọng

Nhà sản xuất:

Takeda
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Cảnh báo và thận trọng
CẢNH BÁO
Phản ứng quá mẫn
FEIBA có thể dẫn đến phản ứng kiểu quá mẫn bao gồm mày đay, sưng mạch, các triệu chứng tiêu hóa rầm rộ, co thắt thanh quản, hạ huyết áp; các phản ứng này có thể nghiêm trọng và xảy ra toàn thân (ví dụ phản ứng quá mẫn kèm theo mày đay, sưng mạch, co thắt phế quản và sốc tuần hoàn). Các phản ứng khác do việc truyền thuốc, như ớn lạnh, sốt, tăng huyết áp cũng đã từng được báo cáo.
Bệnh nhân nên thông báo ngay các triệu chứng sớm của phản ứng quá mẫn, ví dụ chàm, ban da, mày đay toàn thân, ngứa, khó thở, đau tức ngực, khó chịu nói chung, nhức đầu, tụt huyết áp do sốc dị ứng.
Ngay khi có các dấu hiệu hoặc triệu chứng ban đầu của phản ứng do truyền dịch hoặc phản ứng quá mẫn, dừng ngay việc điều trị với FEIBA và tiến hành các biện pháp chăm sóc y tế thích hợp.
Khi tiến hành điều trị lại chế phẩm FEIBA cho các bệnh nhân đã nghi ngờ có tiền sử phản ứng quá mẫn với chế phẩm này hoặc bất cứ thành phần nào trong chế phẩm, cần đánh giá thận trọng lợi ích mong muốn với nguy cơ của việc điều trị lại, đặc biệt các loại phản ứng (dị ứng hoặc không dị ứng) đã biết của người bệnh, cả trong trường hợp điều trị bệnh hay điều trị dự phòng hoặc liệu pháp điều trị thay thế.
Các phản ứng huyết khối và huyết khối tĩnh mạch
Các phản ứng huyết khối và huyết khối tĩnh mạch, bao gồm cả tình trạng đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC), huyết khối tại ven, phù phổi, nhồi máu cơ tim và sốc, đã từng xuất hiện trong điều trị với FEIBA.
Nguy cơ huyết khối và huyết khối tĩnh mạch có thể tăng lên khi điều trị FIEBA với mức liều cao. Một số biến chứng đã từng xảy ra với mức liều trên 200 U/kg/ngày hoặc khi người bệnh có các yếu tố nguy cơ huyết khối tĩnh mạch khác. Các yếu tố nguy cơ này nên được xem xét đánh giá trên các bệnh nhân ưa chảy máu bẩm sinh hoặc mắc phải.
Huyết khối vi mạch (TMA) chưa được báo cáo trong các nghiên cứu lâm sàng với FEIBA. Các trường hợp TMA đã được báo cáo trong một thử nghiệm lâm sàng với emicizumab, mà FEIBA được sử dụng như là một phần của phác đồ điều trị chảy máu ồ ạt (xem Oldenburg et al. Emicizumab Prophylaxis in Hemophilia A with Inhibitors. N Engl J Med 2017:377:809-818). An toàn và hiệu quả của FEIBA khi điều trị chảy máu ồ ạt trên bệnh nhân đang sử dụng emicizumab vẫn chưa được thiết lập. Cân nhắc lợi ích và nguy cơ nếu phải sử dụng FEIBA trên bệnh nhân đang sử dụng emicizumab dự phòng. Nếu xét thấy cần điều trị với FEIBA trên bệnh nhân đang sử dụng emicizumab, bệnh nhân phải được bác sĩ theo dõi chặt chẽ.
Không vượt quá mức liều đơn 100 U/kg thể trọng và mức liều hàng ngày 200 U/kg thể trọng trừ khi tình trạng nghiêm trọng ưa chảy máu đảm bảo và chứng tỏ nhu cầu cần áp dụng các mức liều cao hơn.
Bệnh nhân được chỉ định mức liều trên 100 U/kg thể trọng phải được giám sát nguy cơ đông máu rải rác tại lòng mạch (DIC) và/hoặc thiếu máu cục bộ cấp tính tại tim. Khi được chỉ định để điều trị chảy máu, chỉ kê đơn thuốc khi nhu cầu điều trị với thuốc là thực sự cần thiết để đạt hiệu quả lâm sàng.
Các bệnh nhân có tình trạng đông máu lòng mạch rải rác (DIC), các bệnh xơ cứng động mạch tiến triển, vết thương bầm dập, nhiễm trùng máu, hoặc điều trị phối hợp với Yếu tố VIIa tái tổ hợp có thể có nguy cơ phát triển huyết khối.
Chỉ nên chỉ định FEIBA và phải giám sát chặt chẽ và chỉ khi không có liệu pháp điều trị nào thay thế cho các bệnh nhân có nguy cơ tăng biến chứng huyết khối tĩnh mạch. Điều này bao gồm, và không hạn chế các trường hợp bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch, bệnh gan, đông máu lòng mạch rải rác, huyết khối động mạch hoặc tại ven, bất động sau phẫu thuật, người cao tuổi và trẻ sơ sinh.
Ngay khi quan sát được các dấu hiệu hoặc triệu chứng của huyết khối và huyết khối tĩnh mạch, dừng ngay việc truyền thuốc và tiến hành các biện pháp chẩn đoán và xử trí thích hợp trên lâm sàng.
Giám sát liệu pháp điều trị
Không vượt quá mức liều 100 U/kg thể trọng và mức liều hàng ngày 200 U/kg thể trọng. Cần tiến hành giám sát cẩn thận bệnh nhân được chỉ định mức liều 100 U/kg thể trọng, đặc biệt trước nguy cơ tiến triển đông máu lòng mạch rải rác hoặc xuất hiện các triệu chứng của thiếu máu cục bộ tại tim. Chỉ nên chỉ định FEIBA liều cao dưới sự giám sát người bệnh chặt chẽ với mục đích ngăn chặn xung huyết.
Nếu các dấu hiệu lâm sàng làm thay đổi đáng kể huyết áp hoặc nhịp tim, gây khó thở, ho hoặc đau ngực xuất hiện, cần dừng truyền thuốc và tiến hành các biện pháp chẩn đoán, các xử lý điều trị thích hợp. Các chỉ số xét nghiệm cận lâm sàng đáng kể cho tình trạng đông máu lòng mạch rải rác cho thấy sự giảm hàm lượng fibrinogen, giảm tiểu cầu và/hoặc xuất hiện các sản phẩm giáng hóa của fibrin/fibrinogen (FDP). Các chỉ số khác đánh giá nguy cơ đông máu lòng mạch rải rác như kéo dài rõ rệt thời gian thrombin, thời gian prothrombin hoặc thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (aPTT). Trên các bệnh nhân có các yếu tố ức chế chảy máu hoặc có ức chế do mắc phải với các yếu tố VIII, IX và/hoặc XI, thời gian aPTT kéo dài do bệnh mắc phải.
Các bệnh nhân có yếu tố ức chế ưa chảy máu hoặc có các yếu tố ức chế với yếu tố đông máu do mắc phải, nếu được điều trị với FEIBA, có thể có xu hướng tăng chảy máu cũng như nguy cơ huyết khối đồng thời.
Các xét nghiệm cận lâm sàng và hiệu quả lâm sàng
Trong các thí nghiệm in vitro, hiệu quả lâm sàng thể hiện qua các chỉ số thời gian prothrombin, thời gian đông máu toàn phần, độ đàn hồi đồ cục máu (TEG) không cho thấy mối tương quan với tình trạng bệnh trên lâm sàng. Do đó, cố gắng bình thường hóa các chỉ số này bằng cách tăng liều điều trị với FEIBA sẽ không hiệu quả, và thậm chí cần được loại trừ triệt để vì có nguy cơ khởi phát tình trạng đông máu rải rác trong lòng mạch do quá liều.
Ảnh hưởng đáng kể lên số lượng tiểu cầu
Nếu thiếu đáp ứng điều trị với FEIBA, khuyến cáo bác sỹ nên tiến hành kiểm tra bằng phương thức đếm tiểu cầu do hiệu quả của việc điều trị FEIBA là dựa trên số lượng đủ các tiểu cầu chức năng còn nguyên vẹn.
THẬN TRỌNG
Biến chứng huyết khối và huyết khối tĩnh mạch
Trong các trường hợp dưới đây, chỉ chỉ định điều trị với FEIBA khi không xảy ra các phản ứng của việc điều trị với nồng độ các yếu tố đông máu thích hợp – ví dụ trường hợp hàm lượng yếu tố ức chế cao và xuất huyết nghiêm trọng đe dọa tính mạng hoặc các trường hợp có nguy cơ chảy máu (ví dụ sau khi chấn thương, sau phẫu thuật):
- Đông máu rải rác trong lòng mạch (DIC): các phát hiện trên cận lâm sàng và/hoặc có kèm theo các triệu chứng trên lâm sàng.
- Tổn thương gan: do việc chậm thải trừ các yếu tố đông máu dạng hoạt hóa, bệnh nhân suy gan có nguy cơ cao tiến triển tình trạng đông máu rải rác trong lòng mạch.
- Bệnh nhân tim mạch, huyết khối cấp tính và/hoặc có kèm theo tắc mạch.
Bệnh nhân đang điều trị với FEIBA cần được giám sát chặt chẽ nguy cơ tiến triển đông máu rải rác trong lòng mạch, nhồi máu cơ tim cấp, các dấu hiệu và triệu chứng của các biến chứng huyết khối và huyết khối tĩnh mạch. Cần dừng ngay việc truyền thuốc nếu xuất hiện bất cứ dấu hiệu và triệu chứng ban đầu của biến chứng huyết khối hay huyết khối tĩnh mạch và tiến hành chẩn đoán cũng như áp dụng các biện pháp xử lý cần thiết.
Đáp ứng nghịch đối với các tác nhân bắc cầu
Do yếu tố cá thể trên từng người bệnh, tình trạng đáp ứng đối với tác nhân bắc cầu có thể khác nhau, trên một trường hợp bệnh nhân xuất huyết, có thể ít đáp ứng với tác nhân này song lại có đáp ứng tốt với tác nhân khác. Trường hợp người bệnh thiếu đáp ứng với tác nhân này, có thể cân nhắc việc điều trị bằng một tác nhân khác.
Đáp ứng hồi lưu
Việc điều trị với FEIBA cho các bệnh nhân bằng các yếu tố ức chế có thể dẫn đến khởi phát “tình trạng hồi lưu đáp ứng” làm tăng nồng độ chất ức chế. Khi tiếp tục chỉ định điều trị với FEIBA, nồng độ các yếu tố ức chế có thể giảm xuống theo thời gian. Các bằng chứng lâm sàng và các tài liệu xuất bản đã chỉ ra rằng hiệu quả điều trị của FEIBA là không giảm.
Các kháng thể bề mặt với viêm gan siêu vi B và các kết quả xét nghiệm
Sau khi tiến hành điều trị liều cao với FEIBA, có thể tăng tạm thời các kháng thể bề mặt viêm gan siêu vi B dạng chuyển hóa thụ động, điều này có thể gây kết quả dương tính giả trong các xét nghiệm huyết thanh học.
FEIBA có chứa kháng thể nhóm máu (kháng nhóm A và kháng nhóm B). Truyền thụ động các kháng thể này đến các kháng nguyên hồng cầu ví dụ A, B, D, có thể gây nhiễu một số xét nghiệm huyết thanh đối với kháng thể hồng cầu, chẳng hạn như xét nghiệm kháng globulin (xét nghiệm Coombs).
Dùng thuốc trên trẻ nhỏ
Dựa trên các dữ liệu báo cáo và dữ liệu lâm sàng còn hạn chế trong điều trị FEIBA cho trẻ dưới 6 tuổi, có thể áp dụng cùng liệu pháp điều trị của người trưởng thành cho trẻ đồng thời cân nhắc tình trạng lâm sàng hiện tại của trẻ.
Dùng thuốc trên phụ nữ đang cho con bú
Hiện có rất ít dữ liệu lâm sàng về sử dụng FEIBA điều trị xuất huyết cho phụ nữ bị ưa chảy máu đang cho con bú.
Điều trị dự phòng trên các bệnh nhân ưa chảy máu nhóm B có kèm yếu tố ức chế
Do tỷ lệ bệnh là rất hiếm, chỉ có một số dữ liệu rất ít được cung cấp cho việc điều trị dự phòng trên các đối tượng bệnh nhân này (Báo cáo theo các tài liệu y văn, có 4 ca, và trong nghiên cứu lâm sàng số 090701 chỉ có 1 ca).
Truyền nhiễm các tác nhân nhiễm khuẩn
Các biện pháp chuẩn để ngăn chặn nhiễm khuẩn từ các chế phẩm được bào chế từ máu hoặc huyết tương người bao gồm chọn người cho, sàng lọc cá thể người hiến tặng, hồ hóa huyết thanh với các chất đánh dấu tác nhân nhiễm khuẩn cùng với các công đoạn bất hoạt/ thanh lọc virút trong quy trình sản xuất. Mặc dù vậy, không thể loại trừ hoàn toàn nguy cơ lây truyền các tác nhân nhiễm khuẩn khi điều trị với các chế phẩm được bào chế từ máu hoặc huyết tương người. Điều này cũng áp dụng cho trường hợp các virút hoặc tác nhân gây bệnh mới hoặc chưa biết.
Các biện pháp xử lý được cho là có hiệu quả đối với các virút có vỏ bọc như HIV, HBV và HCV, cũng như các virút không có vỏ bọc HAV. Các biện pháp này có thể có hạn chế trên các virút không có vỏ bọc như parvovirus B19. Nhiễm Parvovirus B19 có thể gây hậu quả nghiêm trọng trên phụ nữ có thai (nhiễm khuẩn cho trẻ sơ sinh) và trên các bệnh nhân có hệ miễn dịch suy giảm hoặc bệnh nhân tăng tạo hồng cầu (ví dụ bệnh nhân thiếu máu tán huyết).
Khuyến cáo đặc biệt mỗi khi điều trị với FEIBA là cần ghi chép lại tên sản phẩm, số lô để duy trì mối liên hệ giữa người bệnh và lô sản phẩm chỉ định.
Cần tiến hành các biện pháp tiêm chủng thích hợp cho các bệnh nhân (ví dụ bệnh nhân siêu vi A, B) nếu các bệnh nhân này có thường xuyên hoặc có điều trị nhắc lại với các chế phẩm từ các dẫn xuất huyết tương người trong đó có cả FEIBA.
Các tá dược trong công thức cần lưu ý
FEIBA 25 E./mL có chứa khoảng 80 mg natri (đã tính toán)/lọ.
FEIBA 50 E./mL có chứa khoảng 4 mg natri/mL, tương đương khoảng 80 mg trong lọ FEIBA 1000 U và khoảng 200 mg trong lọ FEIBA 2500 U. Cần lưu ý tới hàm lượng này khi điều trị thuốc cho các bệnh nhân đang trong chế độ dinh dưỡng ít natri.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
FEIBA không cho thấy ảnh hưởng, hoặc ảnh hưởng không đáng kể, lên khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Các ảnh hưởng lên hệ thần kinh đã quan sát thấy (không rõ tỷ lệ) bao gồm: Dị cảm, suy giảm cảm xúc, đột quỵ do huyết khối, đột quỵ tắc mạch, đau đầu, tình trạng mơ màng, chóng mặt, loạn vị giác.