Feiba

Feiba Dược lực học

Nhà sản xuất:

Takeda
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Dược lực học
Nhóm dược lý trị liệu: yếu tố đông máu, ATC: B02BD03.
Mặc dù FEIBA được phát triển từ những năm đầu thế kỷ XVII và hoạt tính kháng yếu tố ức chế yếu tố VIII bắc cầu của nó đã được chứng minh trên các nghiên cứu in vivoin vitro, song cơ chế hoạt động của FEIBA vẫn còn là đề tài được tranh luận. Như phương pháp định lượng hoạt tính của FEIBA, chế phẩm có chứa phức hợp prothrombin zymogen (dạng enzyme chưa hoạt động của prothrombin, thành phần vừa đóng vai trò tiền chất đông máu – procoagulant (prothrombin FVII, FIX, FX) và kháng đông (protein C) với hàm lượng gần như tương đồng trong đơn vị hoạt tính toàn bộ của FEIBA, với thành phần các enzyme procoagulant hầu như rất thấp. Do đó, FEIBA có chứa các tiền enzym của phức hợp các yếu tố prothrombin, nhưng chỉ với một lượng rất nhỏ trong các sản phẩm hoạt hóa của chúng, và hàm lượng cao nhất là Yếu tố VIIa. [Turecek PL and Schwarz HP. Chapter 4: Factor Eight Inhibitor Bypassing Activity, in Production of Plasma Proteins for Therapeutic Use, eds. Joseph Bertolini, Neil Goss, John Curling, Wiley 2013, ISBN: 978-0-470-92431-0].
Các nghiên cứu khoa học hiện tại đã chỉ ra vai trò của các thành phần đặc hiệu trong phức hợp prothrombin hoạt hóa, prothrombin (F II) và yếu tố X hoạt hóa (F Xa) trong cơ chế hoạt động của FEIBA. [Turecek PL, Varadi K, Gritsch H, et al. Factor Xa and Prothrombin: Mechanism of Action of FEIBA. Vox Sang. 77: 72-79, 1999].
FEIBA kiểm soát chảy máu bằng cách cảm ứng và làm thuận lợi cho quá trình sản sinh thrombin, đây là quá trình hình thành phức hợp prothrombinase là chủ yếu. Một số các nghiên cứu sinh hóa trên in vitroin vivo đã chỉ ra rằng Yếu tố Xa và prothrombin đóng vai trò thiết yếu trong đặc tính hoạt động của FEIBA. Phức hợp prothrombinase đã được cho là một đích tác dụng chính của FEIBA. Bên cạnh prothrombin và Yếu tố Xa, FEIBA còn chứa các protein khác của phức hợp prothrombin, đây có thể cũng là các thành phần góp phần làm thuận lợi hóa quá trình cầm máu trên các bệnh nhân hemophilia có yếu tố ức chế.
Điều trị trên các bệnh nhân hemophilia nhóm B có yếu tố ức chế
Kinh nghiệm điều trị lâm sàng trên các bệnh nhân hemophilia nhóm B ức chế với yếu tố IX là rất hạn chế do tỉ lệ bệnh nhân thấp. Chỉ có 5 bệnh nhân hemophilia nhóm B có yếu tố ức chế được điều trị với FEIBA trong các thử nghiệm lâm sàng cả trong chỉ định điều trị theo nhu cầu bệnh lý, điều trị dự phòng hoặc trong các can thiệp phẫu thuật.
Trong một nghiên cứu theo thời gian có định hướng, nghiên cứu mở, ngẫu nhiễn, song song trên nhóm bệnh nhân ưa chảy máu nhóm A hoặc nhóm B có yếu tố ức chế ở mức nồng độ cao (nghiên cứu 090701, PROOF), 36 bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên điều trị dự phòng hoặc điều trị theo nhu cầu trong vòng 12 tháng ± 14 ngày. 17 người bệnh trong nhóm điều trị dự phòng chảy máu được nhận FEIBA với liều 85 ± 15 U/kg thể trọng mỗi 2 ngày và 19 bệnh nhân nhóm điều trị theo nhu cầu chảy máu được điều trị với FEIBA theo mức liều phù hợp từng cá thể dưới chỉ định của chuyên viên y tế.Hai bệnh nhân ưa chảy máu nhóm B có kèm yếu tố ức chế được điều trị theo nhu cầu và một bệnh nhân ưa chảy máu nhóm B được điều trị dự phòng chảy máu.
Tỷ lệ số lần chảy máu trung bình mỗi năm cho tất cả các dạng giai đoạn chảy máu trên người bệnh trong điều trị dự phòng (ABR) là 7,9, ít hơn trong nhóm điều trị theo nhu cầu (ABR trung bình = 28,7), tương đương với việc giảm 72,5% tỷ lệ chảy máu trung bình hàng năm trong điều trị chảy máu.
Trong một nghiên cứu không thường quy theo thời gian khác đã kết thúc, nghiên cứu này tiến hành giám sát việc điều trị với FEIBA trước khi phẫu thuật (nghiên cứu PASS-INT-003, SURF) trên tổng số 34 quy trình phẫu thuật cho 23 bệnh nhân. Đa số bệnh nhân (18 người) mắc bệnh ưa chảy máu nhóm A có kèm yếu tố ức chế bẩm sinh, hai bệnh nhân mắc bệnh ưa chảy máu nhóm B có yếu tố ức chế và ba người thuộc bệnh ưa chảy máu nhóm A có yếu tố ức chế mắc phải. Thời gian điều trị với FEIBA vào khoảng 1 – 28 ngày, với trung bình lần lượt 9 và 8 ngày. Mức liều tích lũy trung bình lần lượt là 88,347 U và 59,000 U. Trên bệnh nhân mắc bệnh ưa chảy máu nhóm B có kèm yếu tố ức chế, thời gian điều trị với FIEBA kéo dài nhất là 21 ngày và mức liều điều trị cao nhất đã áp dụng là 7324 U.
Ngoài ra, có 36 trường hợp báo cáo đã tiến hành trên các bệnh nhân được chỉ định với FEIBA trong điều trị và dự phòng các giai đoạn chảy máu cho bệnh nhân mắc bệnh ưa chảy máu nhóm B có ức chế với yếu tố IX (24 bệnh nhân được điều trị theo nhu cầu của tình trạng chảy máu, 4 bệnh nhân được điều trị dự phòng và 8 bệnh nhân được điều trị trong các giai đoạn phẫu thuật).
Đã có các nghiên cứu độc lập về việc sử dụng FEIBA trong điều trị cho bệnh nhân ức chế mắc phải với các yếu tố X, XI và XIII.