Đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý trị liệu: Thuốc chống ung thư; các thuốc chống ung thư khác; kháng thể đơn dòng, mã ATC: L01XC12.
Cơ chế tác dụng
Brentuximab vedotin là một liên hợp kháng thể-thuốc (ADC) cung cấp một thuốc chống ung thư dẫn đến sự chết tế bào theo chương trình, chọn lọc trên các tế bào khối u biểu hiện CD30. Dữ liệu phi lâm sàng cho thấy hoạt tính sinh học của brentuximab vedotin là do một quá trình nhiều bước. Việc gắn kết của ADC vào CD30 trên bề mặt tế bào làm khởi phát sự đi vào trong của phức hợp ADC-CD30, phức hợp này sau đó di chuyển vào khoang lysosom. Trong tế bào, MMAE - một loại có hoạt tính đã xác định, được phóng thích thông qua phân cắt bằng thủy phân protein. MMAE gắn vào tubulin làm phá vỡ mạng vi cấu trúc hình ống trong tế bào, làm ngừng chu kỳ tế bào và dẫn đến sự chết tế bào theo chương trình của tế bào khối u biểu hiện CD30.
U lympho Hodgkin kinh điển, u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến và các subtype của u lympho ở da tế bào T (bao gồm u sùi dạng nấm và u lympho ở da tế bào lớn thoái biến tiên phát) biểu hiện CD30 như một kháng nguyên trên bề mặt của các tế bào ác tính. Sự biểu hiện này không phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, dòng điều trị hoặc tình trạng ghép. Những đặc điểm này làm cho CD30 trở thành đích cho can thiệp điều trị. Do cơ chế tác dụng nhắm đích CD30, brentuximab vedotin có khả năng vượt qua sự kháng hóa trị liệu vì CD30 được biểu hiện nhất quán ở những bệnh nhân kháng trị với hóa trị liệu đa thuốc, bất kể tình trạng ghép trước đó. Cơ chế tác dụng nhắm đích CD30 của brentuximab vedotin, biểu hiện nhất quán của CD30 trong suốt các bệnh u lympho Hodgkin kinh điển, u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến, u lympho ở da tế bào T CD30+, phổ trị liệu phổ trị liệu và bằng chứng lâm sàng trong các bệnh ác tính CD30 dương tính sau khi đã sử dụng nhiều dòng điều trị cung cấp một lý do sinh học để sử dụng brentuximab vedotin ở bệnh nhân bị u lympho Hodgkin kinh điển, u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến tái phát hoặc kháng trị có hoặc không có ghép tế bào gốc tự thân trước đó và u lympho ở da tế bào T CD30+ sau ít nhất một liệu pháp toàn thân trước đó.
Không loại trừ sự góp phần của các chức năng liên quan đến kháng thể khác vào cơ chế tác dụng.
Tác dụng dược lực học
Điện sinh lý tim
Bốn mươi sáu (46) bệnh nhân có các bệnh ác tính về huyết học biểu hiện CD30 đã được đánh giá trong số 52 bệnh nhân dùng brentuximab vedotin 1,8 mg/kg mỗi 3 tuần như là một phần của nghiên cứu pha 1, một nhóm, nhãn mở, đa trung tâm về độ an toàn trên tim. Mục tiêu chính là đánh giá hiệu quả của brentuximab vedotin đối với sự tái cực tâm thất của tim và phân tích chính được xác định trước là sự thay đổi khoảng QT hiệu chỉnh (QTc) so với ban đầu tại nhiều thời điểm của chu kỳ 1.
Giới hạn trên của khoảng tin cậy (CI) 90% đối với ảnh hưởng trung bình đến QTc là < 10 mili giây tại mỗi thời điểm của chu kỳ 1 và chu kỳ 3 sau lúc ban đầu. Các dữ liệu này cho thấy không có kéo dài khoảng QT có ý nghĩa lâm sàng do việc sử dụng brentuximab vedotin ở liều 1,8 mg/kg mỗi 3 tuần trên bệnh nhân bị các bệnh ác tính biểu hiện CD30.
Hiệu quả lâm sàng
U lympho Hodgkin
* Nghiên cứu SG035-0003
Hiệu quả và độ an toàn của brentuximab vedotin dưới dạng một thuốc đơn độc đã được đánh giá trong một nghiên cứu then chốt nhãn mở, một nhóm, đa trung tâm ở 102 bệnh nhân bị u lympho Hodgkin tái phát hoặc kháng trị. Xem Bảng 1 về tóm tắt các đặc điểm bệnh nhân và đặc điểm bệnh ban đầu.
- xem Bảng 1.

Mười tám (18) bệnh nhân (18%) nhận được 16 chu kỳ brentuximab vedotin; và số chu kỳ trung vị nhận được là 9 (trong khoảng từ 1 đến 16).
Đáp ứng với điều trị bằng brentuximab vedotin đã được đánh giá bởi Cơ quan đánh giá độc lập (IRF) sử dụng Tiêu chuẩn đáp ứng sửa đổi đối với u lympho ác tính (Cheson, 2007). Đáp ứng điều trị được đánh giá bằng chụp cắt lớp vi tính (CT) xoắn ốc ngực, cổ, bụng và xương chậu; chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) và dữ liệu lâm sàng. Đánh giá về đáp ứng được thực hiện tại các chu kỳ 2, 4, 7, 10, 13 và 16 với PET ở chu kỳ 4 và 7.
Tỷ lệ đáp ứng mục tiêu theo đánh giá của Cơ quan đánh giá độc lập (IRF) là 75% (76 trong số 102 bệnh nhân ở nhóm theo ý định điều trị [ITT]) và giảm khối u đã đạt được ở 94% bệnh nhân. Lui bệnh hoàn toàn (CR) là 33% (34 trong số 102 bệnh nhân ở nhóm ITT). Thời gian sống còn toàn bộ (OS) trung vị là 40,5 tháng (thời gian quan sát trung vị (thời gian cho đến khi tử vong hoặc lần tiếp xúc cuối cùng) từ liều đầu tiên là 35,1 tháng (trong khoảng từ 1,8 đến 72,9 tháng trở lên). Tỷ lệ sống còn toàn bộ ước tính lúc 5 năm là 41% (Khoảng tin cậy 95% [31%, 51%]). Đánh giá của nhà nghiên cứu nói chung phù hợp với đánh giá độc lập về các hình ảnh chụp. Trong số những bệnh nhân được điều trị, 8 bệnh nhân đáp ứng đã tiếp tục được ghép tế bào gốc cùng loài. Để biết kết quả về hiệu quả thêm, xem Bảng 2.
- xem Bảng 2.

Một phân tích thăm dò trên cùng một bệnh nhân cho thấy khoảng 64% bệnh nhân bị u lympho Hodgkin được điều trị bằng brentuximab vedotin như là một phần của nghiên cứu lâm sàng SG035-0003 đã có cải thiện về lợi ích lâm sàng như được đánh giá bằng thời gian sống còn bệnh không tiến triển (PFS) dài hơn so với hầu hết dòng điều trị gần nhất trước đó của họ.
Trong số 35 bệnh nhân (33%) có triệu chứng B lúc ban đầu, 27 bệnh nhân (77%) đã có thuyên giảm tất cả triệu chứng B trong thời gian trung vị từ khi bắt đầu dùng brentuximab vedotin là 0,7 tháng.
Dữ liệu ở bệnh nhân bị u lympho Hodgkin không phải là đối tượng cho việc ghép tế bào gốc (SCT)
* Nghiên cứu C25007
Một nghiên cứu pha 4 ở một nhóm đã được tiến hành ở những bệnh nhân bị u lympho Hodgkin tái phát hoặc kháng trị (n = 60) đã nhận được ít nhất một phác đồ hóa trị liệu trước đó và tại thời điểm bắt đầu điều trị bằng brentuximab vedotin đã không được xem là đối tượng cho việc ghép tế bào gốc hoặc hóa trị liệu đa thuốc. Số chu kỳ trung vị là 7 (trong khoảng từ 1 đến 16 chu kỳ). Các bệnh nhân được điều trị bằng brentuximab vedotin 1,8 mg/kg mỗi 3 tuần. Theo Cơ quan đánh giá độc lập (IRF), tỷ lệ đáp ứng mục tiêu (ORR) ở nhóm bệnh nhân theo ý định điều trị (ITT) là 50% (khoảng tin cậy 95%, 37; 63%). Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ tốt nhất về lui bệnh hoàn toàn (CR) được báo cáo ở 7 bệnh nhân (12%); lui bệnh một phần (PR) được báo cáo ở 23 bệnh nhân (38%). Ở 30 bệnh nhân này, thời gian trung vị đến khi đáp ứng, được định nghĩa là thời gian từ liều đầu tiên đến khi lui bệnh hoàn toàn hoặc lui bệnh một phần sớm nhất, là 6 tuần (trong khoảng từ 5 đến 39 tuần). Thời gian trung vị đến khi có đáp ứng toàn bộ tốt nhất, được định nghĩa là thời gian từ liều đầu tiên cho đến khi đáp ứng lâm sàng tốt nhất về lui bệnh hoàn toàn hoặc lui bệnh một phần, là 11 tuần (trong khoảng từ 5 đến 60 tuần). Hai mươi tám bệnh nhân (47%) tiếp tục được ghép tế bào gốc sau trung vị 7 chu kỳ (trong khoảng từ 4 đến 16 chu kỳ) điều trị bằng brentuximab vedotin. 32 bệnh nhân (53%) không được ghép tế bào gốc sau đó cũng được dùng brentuximab vedotin trong trung vị 7 chu kỳ (trong khoảng từ 1 đến 16 chu kỳ).
Trong số 60 bệnh nhân của nghiên cứu, 49 bệnh nhân (82%) đã nhận được > 1 điều trị liên quan đến ung thư trước đó và 11 bệnh nhân (18%) đã nhận được 1 điều trị liên quan đến ung thư trước đó. Theo Cơ quan đánh giá độc lập (IRF), tỷ lệ đáp ứng mục tiêu là 51% (khoảng tin cậy 95% [36%, 66%]) đối với những bệnh nhân đã nhận được > 1 điều trị liên quan đến ung thư trước đó và 45% (Khoảng tin cậy 95% [17%, 77%]) đối với những bệnh nhân đã nhận được 1 điều trị liên quan đến ung thư trước đó. Đối với những bệnh nhân đã nhận được > 1 điều trị liên quan đến ung thư trước đó, đáp ứng toàn bộ tốt nhất về lui bệnh hoàn toàn được báo cáo ở 6 bệnh nhân (12%); lui bệnh một phần được báo cáo ở 19 bệnh nhân (39%). Đối với những bệnh nhân đã nhận được 1 điều trị liên quan đến ung thư, lui bệnh hoàn toàn đã được báo cáo ở 1 bệnh nhân (9%) và lui bệnh một phần đã được báo cáo ở 4 bệnh nhân (36%). Trong số 49 bệnh nhân đã nhận được > 1 dòng điều trị trước đó, 22 bệnh nhân (45%) đã được ghép tế bào gốc sau đó; trong số 11 bệnh nhân đã nhận được 1 điều trị trước đó, 6 bệnh nhân (55%) đã được ghép tế bào gốc sau đó.
Dữ liệu cũng được thu thập từ những bệnh nhân (n = 15) trong các nghiên cứu pha 1 tăng liều và các nghiên cứu về dược lý lâm sàng, và từ những bệnh nhân (n = 26) trong chương trình NPP (Named-Patient Program) bị u lympho Hodgkin tái phát hoặc kháng trị không được ghép tế bào gốc tự thân, và những người được điều trị bằng brentuximab vedotin 1,8 mg/kg mỗi 3 tuần.
Đặc điểm bệnh nhân ban đầu cho thấy thất bại với nhiều phác đồ hóa trị liệu trước đó (trung vị là 3, trong khoảng từ 1 đến 7) trước khi dùng brentuximab vedotin lần đầu tiên. Năm mươi chín phần trăm (59%) bệnh nhân có bệnh giai đoạn tiến triển (giai đoạn III hoặc IV) lúc chẩn đoán ban đầu.
Kết quả từ những nghiên cứu pha 1 này và từ kinh nghiệm của chương trình NPP cho thấy ở những bệnh nhân bị u lympho Hodgkin tái phát hoặc kháng trị mà không được ghép tế bào gốc tự thân trước đó, các đáp ứng có ý nghĩa lâm sàng có thể đạt được như được chứng minh theo đánh giá của một nhà nghiên cứu, tỷ lệ đáp ứng mục tiêu là 54% và tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn là 22% sau trung vị 5 chu kỳ brentuximab vedotin.
* Nghiên cứu SGN35-005
Hiệu quả và độ an toàn của brentuximab vedotin đã được đánh giá trong một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng với giả dược, 2 nhóm, đa trung tâm ở 329 bệnh nhân bị u lympho Hodgkin có nguy cơ tái phát hoặc tiến triển sau ghép tế bào gốc tự thân. Những bệnh nhân đã biết bị bệnh não/màng não, bao gồm tiền sử bệnh não chất trắng đa ổ tiến triển đã được loại trừ khỏi nghiên cứu. Xem Bảng 3 về đặc điểm bệnh nhân. Trong số 329 bệnh nhân, 165 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào nhóm điều trị và 164 bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào nhóm dùng giả dược. Trong nghiên cứu này, các bệnh nhân được nhận liều đầu tiên sau khi hồi phục từ ghép tế bào gốc tự thân (từ ngày 30-45 sau ghép tế bào gốc tự thân). Các bệnh nhân được điều trị bằng ADCETRIS 1,8 mg/kg hoặc giả dược phù hợp truyền tĩnh mạch trong 30 phút mỗi 3 tuần cho đến 16 chu kỳ.
Những bệnh nhân đủ điều kiện được yêu cầu phải có ít nhất một trong các yếu tố nguy cơ sau đây:
- U lympho Hodgkin kháng trị với điều trị đầu tay
- U lympho Hodgkin tái phát hoặc tiến triển xảy ra < 12 tháng từ lúc kết thúc điều trị đầu tay
- Sự tham gia ngoài hạch bạch huyết tại thời điểm tái phát trước khi ghép tế bào gốc tự thân, bao gồm sự lan rộng ngoài hạch bạch huyết của các khối u hạch bạch huyết vào các cơ quan sống còn lân cận
- xem Bảng 3.

Kết quả về hiệu quả được thể hiện ở Bảng 4. Tiêu chí đánh giá chính về thời gian sống còn bệnh không tiến triển (PFS) đã được đáp ứng và cho thấy sự khác biệt về thời gian sống còn bệnh không tiến triển trung vị 18,8 tháng có lợi cho nhóm điều trị.
- xem Bảng 4.

Phân tích các phân nhóm được xác định
trước về thời gian sống còn bệnh không tiến triển theo Cơ quan đánh giá độc lập
(IRF) đã được thực hiện theo đáp ứng tốt nhất của bệnh nhân đối với liệu pháp
cứu nguy trước khi ghép tế bào gốc tự thân, tình trạng u lympho Hodgkin sau
liệu pháp đầu tay, tuổi, giới tính, cân nặng ban đầu, tình trạng hoạt động cơ
thể theo thang điểm của OCOG ban đầu, số lượng các điều trị trước khi ghép tế
bào gốc tự thân, vùng địa lý, tình trạng chụp cắt lớp phát xạ positron (PET)
trước khi ghép tế bào gốc tự thân, tình trạng
triệu chứng B sau thất bại của liệu pháp đầu tay và tình trạng bệnh ngoài hạch
bạch huyết trước khi ghép tế bào gốc tự thân. Các phân tích đã cho thấy một xu
hướng đồng nhất hướng đến lợi ích cho những bệnh nhân dùng brentuximab vedotin
so với bệnh nhân dùng giả dược ngoại trừ bệnh nhân ≥ 65 tuổi (n = 8).
Không quan sát thấy sự khác biệt về chất
lượng cuộc sống giữa nhóm điều trị và nhóm dùng giả dược. Phân tích sử dụng
nguồn lực y tế (MRU) cho thấy số lần nhập viện và số lần khám ngoại trú, cũng
như số ngày làm việc/các hoạt động khác bị bỏ qua của bệnh nhân và người chăm
sóc thấp hơn với brentuximab vedotin so với giả dược ở những bệnh nhân bị u
lympho Hodgkin có tăng nguy cơ tái phát.
Một
phân tích cập nhật được tiến hành sau 3 năm theo dõi đã cho thấy sự cải thiện
bền vững về thời gian sống còn bệnh không tiến triển theo Cơ quan đánh giá độc
lập (IRF) (Tỷ số nguy cơ (HR) = 0,58 [Khoảng tin cậy 95% (0,41, 0,81)]).
Phân tích hậu
kiểm (post-hoc) các yếu tố nguy cơ
Các phân tích hậu kiểm đã được thực hiện để đánh giá ảnh
hưởng của sự tăng nguy cơ (Số yếu tố nguy cơ) đối với lợi ích lâm sàng (Bảng 5). Các yếu tố nguy cơ đại diện cho các phân tích này là:
- U
lympho Hodgkin xảy ra < 12 tháng hoặc u lympho Hodgkin kháng trị với liệu
pháp đầu tay
- Đáp ứng tốt nhất về lui bệnh một phần (PR) hoặc bệnh ổn định
(SD) với liệu pháp cứu nguy gần nhất được xác định bằng chụp cắt lớp vi tính
(CT) và/hoặc chụp cắt lớp phát xạ positron (PET)
- Bệnh
ngoài hạch bạch huyết lúc tái phát trước khi ghép tế bào gốc tự thân
- Triệu
chứng B lúc tái phát trước khi ghép tế bào gốc tự thân
- Hai hoặc nhiều
liệu pháp cứu nguy trước đó.
Kết quả của các phân tích
hậu kiểm này cho thấy lợi ích lâm sàng tăng lên đối với những bệnh nhân có hai
hoặc nhiều yếu tố nguy cơ nhưng không có sự khác biệt dựa trên bất kỳ yếu tố
nguy cơ nào. Không quan sát thấy lợi ích về sống còn bệnh không tiến triển hoặc
sống còn toàn bộ ở những bệnh nhân có một yếu tố nguy cơ về tái phát hoặc tiến
triển.
- xem Bảng 5.
Tại thời điểm phân tích hậu kiểm (3 năm theo dõi) đối với những bệnh nhân có từ 2 yếu tố nguy cơ trở lên, tỷ số nguy cơ đối với thời gian sống còn bệnh không tiến triển theo Cơ quan đánh giá độc lập (IRF) là 0,49 (Khoảng tin cậy 95% [0,34, 0,71]) và tỷ số nguy cơ đối với thời gian sống còn bệnh không tiến triển theo nhà nghiên cứu là 0,41 (Khoảng tin cậy 95% [0,29, 0,58]).
- xem Hình 1 và 2.
* Nghiên cứu SGN35-006 (Nghiên cứu tái điều trị)
Hiệu quả của việc tái điều trị ở những bệnh nhân trước đây đã đáp ứng (lui bệnh hoàn toàn (CR) hoặc lui bệnh một phần (CR)) với điều trị bằng brentuximab vedotin đã được đánh giá trong một thử nghiệm pha 2, nhãn mở, đa trung tâm. Hai mươi bệnh nhân bị u lympho Hodgkin tái phát hoặc kháng trị được dùng liều khởi đầu 1,8 mg/kg và một bệnh nhân được dùng liều khởi đầu 1,2 mg/kg ADCETRIS truyền tĩnh mạch trong 30 phút mỗi 3 tuần. Số chu kỳ trung vị là 7 (trong khoảng từ 2 đến 37 chu kỳ). Trong số 20 bệnh nhân bị u lympho Hodgkin có thể đánh giá được, 6 bệnh nhân (30%) đạt được lui bệnh hoàn toàn và 6 bệnh nhân (30%) đạt được lui bệnh một phần với việc tái điều trị bằng brentuximab vedotin, với tỷ lệ đáp ứng mục tiêu (ORR) là 60%. Thời gian đáp ứng trung vị là 9,2 tháng ở những bệnh nhân đạt được đáp ứng mục tiêu (lui bệnh hoàn toàn + lui bệnh một phần) và 9,4 tháng ở những bệnh nhân đạt được lui bệnh hoàn toàn.
U lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến
* Nghiên cứu SG035-0004
Hiệu quả và độ an toàn của brentuximab vedotin dưới dạng một thuốc đơn độc đã được đánh giá trong một nghiên cứu nhãn mở, một nhóm, đa trung tâm ở 58 bệnh nhân bị u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến tái phát hoặc kháng trị. Xem Bảng 6 dưới đây về tóm tắt đặc điểm bệnh nhân và đặc điểm bệnh ban đầu.
- xem Bảng 6.
Thời gian trung vị từ khi chẩn đoán u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến ban đầu đến khi dùng liều đầu tiên bằng brentuximab vedotin là 16,8 tháng.
Mười (10) bệnh nhân (17%) nhận được 16 chu kỳ brentuximab vedotin; số chu kỳ trung vị nhận được là 7 (trong khoảng từ 1 đến 16).
Đáp ứng với điều trị bằng brentuximab vedotin đã được đánh giá bởi Cơ quan đánh giá độc lập (IRF) sử dụng Tiêu chuẩn đáp ứng sửa đổi đối với u lympho ác tính (Cheson, 2007). Đáp ứng điều trị được đánh giá bằng chụp cắt lớp vi tính (CT) xoắn ốc ngực, cổ, bụng và xương chậu; chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) và dữ liệu lâm sàng. Đánh giá về đáp ứng được thực hiện tại các chu kỳ 2, 4, 7, 10, 13 và 16 với PET ở chu kỳ 4 và 7.
Tỷ lệ đáp ứng mục tiêu theo đánh giá của Cơ quan đánh giá độc lập (IRF) là 86% (50 trong số 58 bệnh nhân ở nhóm ITT). Tỷ lệ lui bệnh hoàn toàn là 59% (34 trong số 58 bệnh nhân ở nhóm ITT) và giảm khối u (ở mọi mức độ) đã đạt được ở 97% bệnh nhân. Tỷ lệ sống còn toàn bộ ước tính lúc 5 năm là 60% (khoảng tin cậy 95% [47%, 73%]). Thời gian quan sát trung vị (thời gian cho đến khi tử vong hoặc lần tiếp xúc cuối cùng) từ liều đầu tiên là 71,4 tháng. Đánh giá của nhà nghiên cứu nói chung phù hợp với đánh giá độc lập về các hình ảnh chụp. Trong số những bệnh nhân được điều trị, 9 bệnh nhân đáp ứng đã tiếp tục nhận được ghép tế bào gốc (SCT) cùng loài và 9 bệnh nhân đáp ứng đã tiếp tục được ghép tế bào gốc tự thân. Để biết kết quả về hiệu quả thêm, xem Bảng 7 và Hình 3.
- xem Bảng 7 và Hình 3.
Một phân tích thăm dò trên cùng một bệnh nhân cho thấy khoảng 69% bệnh nhân bị u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến được điều trị bằng brentuximab vedotin như là một phần của nghiên cứu lâm sàng SG035-0004 đã có cải thiện về lợi ích lâm sàng như được đánh giá bằng thời gian sống còn bệnh không tiến triển (PFS) dài hơn so với hầu hết dòng điều trị gần nhất trước đó của họ.
Trong số 17 bệnh nhân (29%) có triệu chứng B lúc ban đầu, 14 bệnh nhân (82%) đã có thuyên giảm tất cả triệu chứng B trong thời gian trung vị từ khi bắt đầu dùng brentuximab vedotin là 0,7 tháng.
* Nghiên cứu SGN35-006 (Nghiên cứu tái điều trị)
Hiệu quả của việc tái điều trị ở những bệnh nhân trước đây đã đáp ứng (lui bệnh hoàn toàn (CR) hoặc lui bệnh một phần (CR)) với điều trị bằng brentuximab vedotin đã được đánh giá trong một thử nghiệm pha 2, nhãn mở, đa trung tâm. Bảy bệnh nhân bị u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến tái phát được dùng liều khởi đầu 1,8 mg/kg và một bệnh nhân được dùng liều khởi đầu 1,2 mg/kg ADCETRIS truyền tĩnh mạch
trong 30 phút mỗi 3 tuần. Số chu kỳ trung vị là 8,5 (trong khoảng từ 2 đến 30 chu kỳ). Trong số 8 bệnh nhân bị u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến, 3 bệnh nhân đã được tái điều trị 2 lần trong tổng số 11 lần tái điều trị. Tái điều trị bằng brentuximab vedotin dẫn đến 6 bệnh nhân lui bệnh hoàn toàn (55%) và 4 bệnh nhân lui bệnh một phần (36%), với tỷ lệ đáp ứng mục tiêu (ORR) là 91%. Thời gian đáp ứng trung vị là 8,8 tháng ở những bệnh nhân đạt được đáp ứng mục tiêu (lui bệnh hoàn toàn + lui bệnh một phần) và 12,3 tháng ở những bệnh nhân đạt được lui bệnh hoàn toàn.
U lympho ở da tế bào T
* Nghiên cứu C25001
Hiệu quả và độ an toàn của brentuximab vedotin dưới dạng một thuốc đơn độc đã được đánh giá trong một nghiên cứu then chốt pha 3, nhãn mở, ngẫu nhiên, đa trung tâm ở 128 bệnh nhân bị u lympho ở da tế bào T CD30+ đã được xác định bằng mô học. CD30 dương tính được định nghĩa là ≥10% tế bào dạng lympho mục tiêu thể hiện mô hình nhuộm màng tế bào, tế bào chất và/hoặc Golgi dựa trên xét nghiệm hóa mô miễn dịch (Ventana anti-CD30 [Ber-H2]). Những bệnh nhân có chẩn đoán u sùi dạng nấm [MF] hoặc u lympho ở da tế bào lớn thoái biến tiên phát [pcALCL] được xem là đủ điều kiện cho nghiên cứu. Các bệnh nhân được phân tầng theo các loại bệnh này và được phân ngẫu nhiên 1:1 dùng brentuximab vedotin hoặc theo lựa chọn của bác sĩ dùng methotrexate hoặc bexarotene. Các bệnh nhân bị u lympho ở da tế bào lớn thoái biến tiên phát được xạ trị trước đó hoặc được dùng ít nhất một liệu pháp toàn thân trước đó và các bệnh nhân bị u sùi dạng nấm được dùng ít nhất một liệu pháp toàn thân trước đó. Các bệnh nhân có chẩn đoán đồng thời về u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến, hội chứng Sezary và u lympho không Hodgkin khác (ngoại trừ bệnh sần dạng u lympho [LyP]) đã được loại trừ khỏi nghiên cứu này. Các bệnh nhân được điều trị bằng brentuximab vedotin 1,8 mg/kg truyền tĩnh mạch trong 30 phút mỗi 3 tuần cho đến 16 chu kỳ hoặc theo lựa chọn của bác sĩ cho đến 48 tuần. Số chu kỳ trung vị vào khoảng 12 chu kỳ ở nhóm điều trị bằng brentuximab vedotin. Ở nhóm theo lựa chọn của bác sĩ, thời gian điều trị trung vị (số chu kỳ) đối với bệnh nhân đang dùng bexarotene vào khoảng 16 tuần (5,5 chu kỳ) và 11 tuần (3 chu kỳ) đối với bệnh nhân dùng methotrexate. Bảng 8 cung cấp tóm tắt đặc điểm bệnh nhân và đặc điểm bệnh.
- xem Bảng 8.
Các liệu pháp điều trị da thông thường nhất trước đây ở nhóm bệnh nhân ITT là xạ trị (64%), liệu pháp ánh sáng (48%) và steroid dùng tại chỗ (17%). Các liệu pháp toàn thân thông thường nhất trước đây ở nhóm bệnh nhân ITT là hóa trị liệu (71%), liệu pháp miễn dịch (43%) và bexarotene (38%).
Tiêu chí đánh giá chính là tỷ lệ đáp ứng mục tiêu kéo dài ít nhất 4 tháng (ORR4) (thời gian từ đáp ứng đầu tiên đến đáp ứng cuối cùng ≥ 4 tháng), được xác định bởi một đánh giá độc lập về Điểm số đáp ứng toàn bộ (GRS) bao gồm đánh giá về da (công cụ đánh giá có trọng số về mức độ nặng đã sửa đổi [mSWAT] được đánh giá theo nhà nghiên cứu), đánh giá bằng chụp X-quang hạch bạch huyết và nội tạng, và phát hiện các tế bào Sézary tuần hoàn (Olsen 2011). Bảng 9 bao gồm các kết quả về ORR4 và các tiêu chí phụ chủ yếu khác.
- xem Bảng 9.
Phân tích các phân nhóm được xác định trước về tỷ lệ đáp ứng mục tiêu kéo dài ít nhất 4 tháng theo Cơ quan đánh giá độc lập (IRF) đã được thực hiện theo subtype u lympho ở da tế bào T của bệnh nhân, lựa chọn điều trị của bác sĩ, tình trạng hoạt động cơ thể theo đánh giá của ECOG ban đầu, tuổi, giới tính và vùng địa lý. Các phân tích đã cho thấy một xu hướng đồng nhất hướng đến lợi ích cho những bệnh nhân dùng brentuximab vedotin so với bệnh nhân được điều trị theo lựa chọn của bác sĩ. Tỷ lệ đáp ứng mục tiêu kéo dài ít nhất 4 tháng theo thứ tự là 50% và 75% ở nhóm dùng brentuximab vedotin so với 10,2% và 20% ở nhóm theo lựa chọn của bác sĩ về u sùi dạng nấm (MF) và u lympho ở da tế bào lớn thoái biến tiên phát (pcALCL).
Không quan sát thấy sự khác biệt có ý nghĩa về chất lượng cuộc sống (được đánh giá bằng bảng câu hỏi 5 khía cạnh EuroQol [EQ-5D] và Đánh giá chức năng về điều trị ung thư-tổng quát [FACT-G]) giữa các nhóm điều trị.
Hiệu quả và độ an toàn của ADCETRIS đã được đánh giá trong hai nghiên cứu bổ sung nhãn mở ở 108 bệnh nhân bị u lympho ở da tế bào T CD30+ tái phát (bao gồm mô học về u sùi dạng nấm và u lympho ở da tế bào lớn thoái biến tiên phát cũng như hội chứng Sézary (SS), bệnh sần dạng u lympho (LyP) và u lympho ở da tế bào T hỗn hợp), bất kể mức biểu hiện CD30. Các bệnh nhân được điều trị bằng ADCETRIS 1,8 mg/kg truyền tĩnh mạch trong 30 phút mỗi 3 tuần cho đến 16 chu kỳ. Kết quả về độ an toàn và hiệu quả trong các nghiên cứu này phù hợp với kết quả trong nghiên cứu C25001. Tỷ lệ đáp ứng tổng thể đối với u sùi dạng nấm là 54-66%; u lympho ở da tế bào lớn thoái biến tiên phát là 67%; hội chứng Sézary là 50%; bệnh sần dạng u lympho là 92%; và mô học u lympho ở da tế bào T hỗn hợp là 82-85%.
Nhóm bệnh nhi
Độ an toàn, dược động học và hoạt tính chống khối u của brentuximab vedotin ở 36 bệnh nhi (7-17 tuổi) bị u lympho Hodgkin và u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến tái phát hoặc kháng trị (trẻ em từ 7-11 tuổi, n = 12 và thiếu niên từ 12 đến 17 tuổi, n = 24) đã được đánh giá trong một nghiên cứu pha 1/2 nhãn mở, một thuốc đơn độc, tăng liều, đa trung tâm (C25002). Pha 1 của nghiên cứu đánh giá hồ sơ về an toàn (xem phần
Tác dụng không mong muốn), xác định liều tối đa được dung nạp đối với trẻ em (MTD) và/hoặc liều khuyến cáo pha 2 (RP2D), và đánh giá dược động học của brentuximab vedotin (xem phần
Dược động học). Pha 1 bao gồm những bệnh nhân bị u lympho Hodgkin tái phát hoặc kháng trị được điều trị với liều 1,4 mg/kg và 9 bệnh nhân (7 bệnh nhân bị u lympho Hodgkin và 2 bệnh nhân bị u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến tái phát hoặc kháng trị) được điều trị với liều 1,8 mg/kg. Liều tối đa được dung nạp (MTD) không đạt được. Liều khuyến cáo pha 2 được xác định là 1,8 mg/kg. Trong nghiên cứu, tổng cộng có 16 bệnh nhân bị u lympho Hodgkin tái phát hoặc kháng trị và 17 bệnh nhân bị u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến tái phát hoặc kháng trị, trong đó 10 bệnh nhân tái phát lần đầu tiên, được điều trị bằng brentuximab vedotin 1,8 mg/kg. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ (ORR) theo Cơ quan đánh giá độc lập (IRF) được phân tích trong cả hai pha nghiên cứu ở liều khuyến cáo pha 2. Trong số 33 bệnh nhân dùng liều khuyến cáo pha 2, 32 bệnh nhân được đánh giá là có đáp ứng. Tỷ lệ đáp ứng toàn bộ là 47% ở bệnh nhân bị u lympho Hodgkin tái phát hoặc kháng trị có thể đánh giá đáp ứng, 53% ở những bệnh nhân bị u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến tái phát hoặc kháng trị và 60% ở bệnh nhân bị u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến trong lần tái phát đầu tiên. Tám bệnh nhân bị u lympho Hodgkin và 9 bệnh nhân bị u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến tiếp tục được ghép tế bào gốc sau khi điều trị bằng brentuximab vedotin.
Cơ quan Quản lý Dược phẩm châu Âu đã hoãn lại nghĩa vụ đệ trình kết quả nghiên cứu với ADCETRIS ở một hoặc nhiều phân nhóm bệnh nhi trong điều trị u lympho Hodgkin và u lympho tế bào lớn thoái biến (xem phần
Đặc tính dược động học để biết thông tin về việc sử dụng cho trẻ em).
Thuốc này đã được cấp phép lưu hành theo một kế hoạch gọi là ‘phê duyệt có điều kiện’. Điều này có nghĩa là các bằng chứng thêm về thuốc này đang được chờ đợi.
Cơ quan Quản lý Dược phẩm châu Âu sẽ xem xét thông tin mới về thuốc này ít nhất là mỗi năm và Tóm tắt đặc tính sản phẩm (SmPC) này sẽ được cập nhật khi cần thiết.
Đặc tính dược động học
Dược động học của brentuximab vedotin đã được đánh giá trong các
nghiên cứu pha 1 và trong phân tích dược động học quần thể dữ liệu từ 314 bệnh
nhân. Trong tất cả các thử nghiệm lâm
sàng, brentuximab vedotin được dùng dưới
dạng truyền tĩnh mạch.
Nồng
độ tối đa của brentuximab vedotin ADC thường
được quan sát vào lúc kết thúc việc truyền hoặc lấy mẫu gần nhất với lúc kết
thúc việc truyền. Sự giảm theo dạng đa hàm mũ về nồng độ ADC trong huyết thanh
đã được quan sát thấy với thời gian bán hủy pha cuối khoảng từ 4 đến 6
ngày. Nồng độ xấp xỉ tỷ lệ với liều.
Sự tích lũy tối thiểu hoặc tích lũy ADC đã được quan sát thấy với nhiều liều ở
lịch dùng thuốc mỗi 3 tuần, phù hợp với ước tính thời gian bán hủy pha cuối. C
max và AUC điển hình của
ADC sau khi dùng một liều đơn 1,8 mg/kg trong một nghiên cứu pha 1 theo thứ tự
khoảng 31,98 μg/mL và 79,41 μg/mL x ngày.
MMAE
là chất chuyển hóa chính của brentuximab vedotin. C
max, AUC và T
max trung vị
của MMAE sau khi dùng một liều đơn ADC 1,8 mg/kg trong một nghiên cứu pha 1
theo thứ tự khoảng 4,97 ng/mL, 37,03 ng/mL x ngày và 2,09 ngày. Nồng độ MMAE giảm sau khi dùng nhiều liều brentuximab
vedotin với khoảng 50% đến 80% nồng độ của liều đầu tiên được quan sát thấy ở
liều tiếp theo. MMAE được chuyển hóa
chủ yếu thành một chất chuyển hóa mạnh tương đương; tuy nhiên, nồng độ của chất
chuyển hóa ở mức thấp hơn so với MMAE. Vì vậy, nó không có khả năng có bất kỳ
sự góp phần đáng kể nào vào tác dụng toàn thân của MMAE.
Trong chu kỳ đầu tiên, nồng độ
MMAE cao hơn có liên quan đến sự giảm số lượng bạch cầu trung tính tuyệt đối.
Phân
bố
In vitro, sự gắn kết của MMAE với
protein huyết tương huyết thanh người trong khoảng từ 68-82%. MMAE không chắc
thay thế hoặc bị thay thế bởi các thuốc gắn kết mạnh với protein.
In vitro, MMAE là cơ chất của P-gp và
không phải là chất ức chế P-gp ở nồng độ lâm sàng.
Ở người, thể tích phân bố trung bình của ADC ở trạng thái ổn định
là khoảng 6-10 lít. Dựa trên ước
tính dược động học quần thể, thể tích phân bố biểu kiến điển hình (VM và VMP) của MMAE theo thứ tự là 7,37 lít và 36,4 lít.
Chuyển hóa
ADC được dự kiến là sẽ
được dị hóa dưới dạng protein với
các acid amin cấu thành được
tái sử dụng hoặc thải trừ.
Dữ liệu
in vivo ở động
vật và người cho thấy rằng chỉ có một phần nhỏ MMAE phóng thích từ brentuximab vedotin được chuyển
hóa. Nồng độ của chất chuyển hóa MMAE chưa được đo trong huyết tương người. Ít
nhất có một chất chuyển hóa của MMAE đã cho thấy là có hoạt tính
in vitro.
MMAE là cơ chất của CYP3A4 và có thể của CYP2D6. Dữ liệu
in vitro cho thấy sự chuyển hóa của MMAE xảy ra
chủ yếu qua quá trình oxy
hóa bởi CYP3A4/5. Các nghiên cứu
in vitro sử dụng microsom gan người cho thấy MMAE chỉ ức chế
CYP3A4/5 ở mức nồng độ cao hơn rất nhiều so với mức nồng độ đạt được trong sử dụng lâm sàng. MMAE không ức chế các isoform khác.
MMAE không gây cảm ứng
bất kỳ enzym CYP450 chính nào trong nuôi
cấy sơ cấp tế bào gan người.
Thải trừ
ADC được thải trừ qua sự dị hóa với độ thanh thải và thời gian bán
hủy ước tính điển hình theo thứ tự là 1,457 lít/ngày và 4-6 ngày.
Sự thải
trừ MMAE bị giới hạn bởi tốc độ phóng thích từ ADC, độ thanh thải và thời gian bán hủy biểu kiến điển hình của MMAE theo thứ tự là 19,99 lít/ngày và 3-4 ngày.
Một nghiên cứu về sự thải trừ đã được thực hiện ở những bệnh nhân
dùng brentuximab vedotin với liều 1,8 mg/kg. Khoảng 24% của tổng lượng MMAE đã dùng như
một phần của ADC trong khi truyền
brentuximab vedotin đã được
thu hồi trong cả nước tiểu và
phân trong thời gian 1 tuần. Trong số lượng
MMAE được thu hồi,
khoảng 72% được thu hồi
trong phân. Một lượng MMAE nhỏ hơn (28%) được thải trừ trong nước tiểu.
Dược động học ở các nhóm bệnh
nhân đặc biệt
Phân tích dược động học quần thể cho thấy nồng độ albumin huyết
thanh ban đầu là đồng biến số có ý nghĩa đối với độ thanh thải MMAE. Phân tích cho thấy độ thanh thải
MMAE thấp hơn 2 lần ở bệnh nhân có nồng độ albumin
huyết thanh thấp
< 3,0 g/lít so
với bệnh nhân có nồng độ albumin huyết thanh trong phạm vi bình thường.
Suy gan
Một nghiên cứu đã đánh giá dược động học của brentuximab vedotin
và MMAE sau khi dùng ADCETRIS 1,2 mg/kg trên bệnh nhân suy gan nhẹ (Child-Pugh
A; n = 1), trung bình (Child-Pugh B; n = 5) và nặng (Child-Pugh C; n = 1). So với
bệnh nhân có chức năng gan bình thường, nồng độ MMAE tăng khoảng 2,3 lần (khoảng
tin cậy 90% 1,27-4,12 lần) ở bệnh nhân suy gan.
Suy thận
Một nghiên cứu đã
đánh giá dược động học của brentuximab vedotin và MMAE sau khi dùng ADCETRIS
1,2 mg/kg trên bệnh nhân suy thận nhẹ (n=4), trung bình (n=3) và nặng (n=3).
So với bệnh nhân có
chức năng thận bình thường, nồng độ MMAE tăng khoảng 1,9 lần (khoảng tin cậy
90% 0,85-4,21 lần) trên bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin <
30 mL/phút). Không quan sát thấy ảnh hưởng đến bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc
trung bình.
Người cao tuổi
Dược
động học quần thể của brentuximab vedotin đã được khảo sát từ
một số nghiên cứu, bao gồm dữ liệu từ 380 bệnh nhân lên đến 87 tuổi (34 bệnh nhân
≥ 65-
< 75 tuổi và 17 bệnh nhân ≥ 75 tuổi). Ảnh hưởng của
tuổi đến dược động học đã được nghiên cứu và nó không phải là một đồng biến
số có ý nghĩa (xem phần
Liều lượng và cách dùng).
Nhóm bệnh nhi
Dược động học của brentuximab vedotin ADC và MMAE sau khi truyền tĩnh mạch BV trong 30 phút với
liều 1,4
mg/kg hoặc 1,8 mg/kg mỗi 3 tuần đã được đánh giá trong một
thử nghiệm lâm sàng pha 1/2 ở 36 bệnh nhi (7-17 tuổi) bị u
lympho Hodgkin và u lympho toàn thân tế bào lớn thoái biến tái
phát hoặc kháng trị (trẻ em từ 7-11 tuổi, n = 12 và thiếu niên từ 12-17
tuổi, n = 24) (xem phần
Đặc tính dược lực học). C
max của ADC thường được quan sát vào lúc kết thúc việc truyền hoặc lấy mẫu gần nhất với
lúc kết thúc
việc truyền. Sự giảm theo dạng đa hàm mũ về nồng
độ ADC trong huyết thanh đã được quan sát thấy
với thời
gian bán hủy pha cuối khoảng từ 4 đến 5 ngày. Nồng độ
xấp xỉ tỷ lệ với liều với một xu hướng được quan
sát thấy về nồng độ ADC thấp hơn
ở tuổi/thể trọng thấp hơn trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu. AUC trung vị của ADC ở trẻ em và thiếu niên từ
nghiên cứu này thấp hơn theo thứ tự khoảng 14% và 3% ở bệnh
nhân người lớn, trong khi nồng độ MMAE cao hơn theo thứ tự là 53% và 13% ở bệnh nhân người lớn. C
max và AUC trung vị của
ADC sau khi dùng một liều đơn 1,8 mg/kg theo thứ tự là 29,8 µg/mL và 67,9 µg*ngày/mL ở bệnh nhân < 12 tuổi và 34,4 µg/mL và
77,8 µg*ngày/mL ở bệnh nhân ≥ 12 tuổi. C
max, AUC và
T
max trung vị của MMAE sau khi
dùng một liều đơn 1,8
mg/kg theo thứ tự là 3,73 ng/mL, 17,3 ng*ngày/mL và
1,92 ngày ở bệnh nhân < 12 tuổi và theo thứ tự là 6,33 ng/mL, 42,3 ng*ngày/mL và 1,82 ngày ở bệnh nhân ≥ 12 tuổi. Có
một xu hướng tăng độ thanh thải của brentuximab vedotin ở bệnh nhi đã được xác định
dương tính với kháng thể kháng thuốc. Không có bệnh nhân nào < 12 tuổi (0/11) và 2 bệnh
nhân ≥ 12 tuổi (2/23) trở nên dương tính với
kháng thể kháng thuốc.
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
MMAE đã cho thấy là có đặc tính gây lệch bội trong một nghiên cứu
về nhân nhỏ ở tủy xương chuột cống
in vivo. Kết
quả này phù hợp với
tác dụng dược lý của MMAE trên bộ máy phân bào (phá vỡ mạng lưới vi cấu trúc hình ống)
trong tế bào.
Ảnh hưởng của brentuximab vedotin đến chức năng sinh sản của nam
và nữ ở người chưa được nghiên cứu. Tuy nhiên, kết quả của các nghiên cứu độc
tính liều lặp lại trên chuột cống cho thấy có khả năng brentuximab vedotin làm
suy giảm chức năng sinh sản và khả năng sinh sản ở chuột đực. Teo tinh hoàn và thoái hóa tinh hoàn có thể
hồi phục một phần sau một thời gian ngừng điều
trị 16 tuần.
Brentuximab vedotin gây chết phôi-thai trên chuột cái mang thai.
Trong các nghiên cứu phi lâm sàng, giảm tế bào dạng lympho và giảm
trọng lượng tuyến ức đã được quan sát thấy, phù hợp với sự phá hủy vi cấu trúc
hình ống do tác dụng dược lý, gây ra bởi MMAE có nguồn gốc từ brentuximab
vedotin.