Rối loạn tim mạch
Điều trị tăng acid uric huyết mãn tính
Nên tránh sử dụng febuxostat ở bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch nghiêm trọng (như nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc đau thắt ngực không ổn định) trừ khi không có lựa chọn thích hợp nào khác.
Đã quan sát thấy một tỷ lệ lớn về mặt số lượng các biến cố tim mạch theo APTC được báo cáo bởi các nhà nghiên cứu (kết điểm được định nghĩa từ Hợp tác thử nghiệm chống kết tập tiểu cầu (APTC) bao gồm tử vong do bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim không gây tử vong, đột quỵ không gây tử vong) đối với nhóm dùng febuxostat so với nhóm dùng allopurinol trong các nghiên cứu APEX và FACT (lần lượt 1,3 và 0,3 biến cố/100 bệnh nhân-năm (PYs)), nhưng không quan sát thấy trong nghiên cứu CONFIRMS. Tỷ lệ các biến cố tim mạch theo APTC được báo cáo trong nghiên cứu phối hợp giai đoạn III (nghiên cứu APEX, FACT và CONFIRM) là 0,7 và 0,6 biến cố/100 PYs. Trong nghiên cứu dài hạn mở rộng, tỷ lệ các biến cố tim mạch theo APTC lần lượt là 1,2 và 0,6 biến cố 100 PYs đối với febuxostat và allopurinol. Không có sự khác biệt nào có ý nghĩa thống kê được tìm thấy và không có mối liên hệ nhân quả nào được thiết lập với febuxostat. Các yếu tố nguy cơ được xác định trên các bệnh nhân bao gồm tiền sử xơ vữa động mạch và/ hoặc nhồi máu cơ tim hoặc suy tim sung huyết.
Trong thử nghiệm CARES sau lưu hành, tỷ lệ của các biến cố tim mạch nghiêm trọng trên febuxostat là tương tự so với allopurinol khi được điều trị ở bệnh nhân (HR 1,03; 95% CI 0,87-1,23) nhưng đã quan sát thấy tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch cao hơn (4,3% so với 3,2% trên bệnh nhân; HR 1,34; 95% CI 1,03-1,73).
Phòng ngừa và điều trị tăng acid uric huyết ở bệnh nhân có nguy cơ gặp phải hội chứng tiêu khối u (TLS)
Bệnh nhân đang trải qua hóa trị liệu cho các bệnh lý huyết học ác tính, có nguy cơ trung bình đến cao mắc phải hội chứng tiêu khối u (TLS), được điều trị với URBISAN nên được theo dõi tim mạch thích hợp trên lâm sàng.
Dị ứng/ quá mẫn với thuốc
Đã có các báo cáo hiếm gặp được tập hợp từ các kinh nghiệm sau lưu hành về các phản ứng dị ứng/ quá mẫn nghiêm trọng, bao gồm hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử thượng bì nhiễm độc và sốc/ phản ứng phản vệ cấp tính đe dọa đến tính mạng. Trong hầu hết các trường hợp, các phản ứng này xảy ra trong tháng đầu tiên điều trị với febuxostat. Một số bệnh nhân đã báo cáo về tình trạng suy thận và/ hoặc có phản ứng quá mẫn từ trước với allopurinol. Các phản ứng quá mẫn nghiêm trọng bao gồm phản ứng thuốc với tăng bạch cầu ái toan và các triệu chứng toàn thân (hội chứng DRESS) có liên quan đến sốt, huyết học, thận hoặc gan trong một số trường hợp.
Cần thông báo cho bệnh nhân các dấu hiệu và triệu chứng của phản ứng dị ứng/ quá mẫn cũng như giám sát chặt chẽ các triệu chứng của phản ứng dị ứng/ quá mẫn trên bệnh nhân. Cần ngưng sử dụng febuxostat ngay lập tức nếu xảy ra các phản ứng dị ứng/ quá mẫn nghiêm trọng, bao gồm hội chứng Stevens-Johnson, vì việc ngừng thuốc sớm có liên quan đến tiên lượng tốt hơn cho bệnh nhân. Không được sử dụng lại febuxostat tại bất kỳ thời điểm nào nếu bệnh nhân đã xuất hiện các phản ứng dị ứng/ quá mẫn bao gồm hội chứng Stevens-Johnson và sốc/ phản ứng phản vệ cấp tính.
Cơn gout cấp tính (đợt bùng phát bệnh gout)
Không nên bắt đầu điều trị với febuxostat cho đến khi cơn gout cấp tính đã hoàn toàn giảm xuống. Đợt bùng phát bệnh gout có thể xảy ra khi bắt đầu điều trị do sự thay đổi nồng độ acid uric trong huyết thanh dẫn đến sự huy động urat từ các mô lắng đọng. Khi bắt đầu điều trị với febuxostat, nên dự phòng đợt bùng phát bệnh gout trong ít nhất 6 tháng với NSAID hoặc colchicin.
Nếu đợt bùng phát bệnh gout xảy ra trong khi điều trị với febuxostat, không nên ngừng sử dụng febuxostat. Nên xử trí đợt bùng phát bệnh gout đồng thời một cách thích hợp trên từng bệnh nhân. Tiếp tục điều trị với febuxostat sẽ làm giảm tần suất và cường độ của các đợt bùng phát bệnh gout.
Sự lắng đọng xanthin
Ở những bệnh nhân có tỷ lệ hình thành urat tăng cao (như các bệnh ác tính và quá trình điều trị của các bệnh này, hội chứng Lesch-Nyhan), nồng độ toàn phần của xanthin trong nước tiểu, trong một số ít trường hợp, có thể tăng cao đủ để lắng đọng ở hệ tiết niệu. Tình trạng này không quan sát thấy trong thử nghiệm lâm sàng then chốt với febuxostat ở hội chứng tiêu khối u. Không khuyến cáo sử dụng febuxostat ở bệnh nhân có hội chứng Lesch-Nyhan vì vẫn chưa có kinh nghiệm.
Mercaptopurin/azathioprin
Không khuyến cáo sử dụng febuxostat ở bệnh nhân đang điều trị đồng thời với mercaptopurin/azathioprin vì febuxostat ức chế xanthin oxidase có thể làm gia tăng nồng độ của mercaptopurin/azathioprin trong huyết tương dẫn đến độc tính nghiêm trọng. Vẫn chưa có nghiên cứu tương tác nào được thực hiện trên người.
Khi việc sử dụng đồng thời không thể tránh khỏi, nên giảm liều của mercaptopurin/azathioprin. Dựa trên mô hình hóa và phân tích mô phỏng dữ liệu từ nghiên cứu tiền lâm sàng ở chuột, khi sử dụng đồng thời với febuxostat, liều của mercaptopurin/azathioprin nên được giảm xuống 20% hoặc ít hơn liều được kê đơn trước đó để tránh các tác động về mặt huyết học có thể có.
Nên theo dõi bệnh nhân chặt chẽ và điều chỉnh liều mercaptopurin/azathioprin dựa trên đánh giá sự đáp ứng trị liệu và sự khởi phát tác dụng độc hại cuối cùng.
Bệnh nhân được ghép tạng
Không có kinh nghiệm trên những bệnh nhân được ghép tạng. Không khuyến cáo sử dụng febuxostat trên những bệnh nhân này.
Theophyllin
Việc sử dụng đồng thời febuxostat 80 mg và theophyllin liều đơn 400 mg trên những đối tượng khỏe mạnh không cho thấy bất kỳ sự tương tác dược động học nào. Febuxostat 80 mg có thể sử dụng đồng thời ở những bệnh nhân được điều trị với theophyllin mà không có nguy cơ nào làm gia tăng nồng độ theophyllin trong huyết tương. Không có sẵn sữ liệu đối với febuxostat 120 mg.
Rối loạn gan
Trong nghiên cứu lâm sàng phối hợp gian đoạn 3, các bất thường nhẹ trong xét nghiệm chức năng gan đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân điều trị với febuxostat (5,0%). Nên xét nghiệm chức năng gan khi bắt đầu điều trị với febuxostat và định kỳ sau đó dựa trên các đánh giá lâm sàng.
Rối loạn tuyến giáp
Đã quan sát thấy sự gia tăng giá trị TSH (> 5,5 µIU/mL) ở những bệnh nhân điều trị dài hạn với febuxostat (5,5%) trong các nghiên cứu mở rộng nhãn mở dài hạn. Nên thận trọng khi dùng febuxostat ở những bệnh nhân thay đổi chức năng tuyến giáp.
Lactose
Thuốc chứa tá dược lactose monohydrat. Do đó, bệnh nhân có các vấn đề di truyền hiếm gặp về việc không dung nạp galactose, thiếu lactase Lapp hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc
Buồn ngủ, chóng mặt, dị cảm và nhìn mờ đã được báo cáo khi sử dụng febuxostat. Bệnh nhân nên thận trọng trước khi lái xe, vận hành máy móc hoặc tham gia vào các hoạt động nguy hiểm cho đến khi chắc chắn rằng URBISAN không ảnh hưởng xấu đến khả năng hoạt động.
Đăng xuất