Tremfya

Tremfya

guselkumab

Nhà sản xuất:

Cilag AG

Nhà tiếp thị:

Johnson & Johnson
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Thành phần
Mỗi mL: Guselkumab 100 mg.
Guselkumab là một kháng thể đơn dòng (mAb) globulin miễn dịch G1 lamda (IgG1λ) người kháng protein interleukin (IL)-23, được sản xuất trên tế bào buồng trứng chuột Hamster (CHO) Trung Quốc bằng công nghệ tái tổ hợp DNA.
Mô tả
Thành phần tá dược: Sucrose, histidine, L-histidine monohydrochloride monohydrate, polysorbate 80, nước pha tiêm.
Dạng bào chế: Dung dịch tiêm. Dung dịch trong và không màu đến vàng nhạt.
Dược lý
Đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý điều trị: Ức chế miễn dịch, ức chế interleukin, mã ATC: L04AC16.
Cơ chế tác dụng
Guselkumab là một kháng thể đơn dòng (mAb) IgG1λ của người gắn kết một cách có chọn lọc với protein interleukin 23 (IL-23) với độ đặc hiệu và ái lực cao. IL-23, một cytokine điều hòa, ảnh hưởng đến sự biệt hóa, sự phát triển và sự sống còn của các phân nhóm tế bào T, (ví dụ tế bào Th17 và tế bào Tc17) và các phân nhóm tế bào miễn dịch bẩm sinh, đại diện cho nguồn cytokine phản ứng, bao gồm IL-17A, IL-17F và IL-22 dẫn đến bệnh lý viêm. Ở người, việc ức chế chọn lọc IL-23 đã được chứng minh là bình thường hóa việc sản xuất các cytokine này.
Nồng độ IL-23 tăng lên trong da của bệnh nhân bị bệnh vảy nến thể mảng. Trong các mô hình in vitro, guselkumab đã được chứng minh là ức chế hoạt tính sinh học của IL-23 bằng cách ngăn chặn sự tương tác của nó với thụ thể IL-23 trên bề mặt tế bào, phá vỡ tín hiệu qua trung gian IL-23, sự hoạt hóa và điều hành cytokine. Guselkumab thể hiện tác dụng lâm sàng trong bệnh vảy nến thể mảng thông qua phong tỏa con đường cytokine IL-23.
Tác dụng dược lực học
Trong một nghiên cứu Pha I, điều trị bằng guselkumab làm giảm biểu hiện gen của con đường IL-23/Th17 và các biểu hiện gen liên quan đến bệnh vảy nến, như được trình bày bằng phân tích mRNA thu được từ sinh thiết da tổn thương của bệnh nhân bị bệnh vảy nến thể mảng ở Tuần 12 so với ban đầu. Trong cùng nghiên cứu Pha I này, điều trị với guselkumab dẫn đến cải thiện các đánh giá mô học của bệnh vảy nến ở Tuần 12, bao gồm giảm độ dày biểu bì và mật độ tế bào T. Hơn nữa, giảm nồng độ IL-17A, IL-17F và IL-22 trong huyết thanh so với giả dược đã được quan sát thấy ở bệnh nhân được điều trị bằng guselkumab trong các nghiên cứu Pha II và Pha III cho bệnh vảy nến thể mảng. Những kết quả này phù hợp với lợi ích lâm sàng quan sát được với điều trị guselkumab trong bệnh vảy nến thể mảng.
Trong những bệnh nhân viêm khớp vảy nến trong các nghiên cứu pha III, tại thời điểm ban đầu đã thấy tăng nồng độ protein phản ứng C, amyloid A huyết thanh, và IL-6, và Th17 cytokine phản ứng IL-17A, IL-17F và IL-22. Guselkumab làm giảm nồng độ các protein này trong 4 tuần kể từ khi bắt đầu điều trị. Guselkumab làm giảm hơn nữa nồng độ các protein này đến Tuần 24 so với thời điểm ban đầu và cũng như so với giả dược.
An toàn và hiệu quả trên lâm sàng
Vảy nến thể mảng
Tính an toàn và hiệu quả của guselkumab đã được đánh giá trong ba nghiên cứu Pha III ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng hoạt chất ở bệnh nhân người lớn bị vảy nến thể mảng trung bình đến nặng có chỉ định quang trị liệu hoặc điều trị toàn thân.
* VOYAGE 1 và VOYAGE 2
Hai nghiên cứu (VOYAGE 1 và VOYAGE 2) đã đánh giá tính an toàn và hiệu quả của guselkumab so với giả dược và adalimumab trên 1.829 bệnh nhân người lớn. Bệnh nhân ngẫu nhiên được dùng guselkumab (N=825) liều 100 mg vào Tuần 0 và 4, và mỗi 8 tuần sau đó (q8w) cho đến  Tuần 48 (VOYAGE 1) và  Tuần 20 (VOYAGE 2). Bệnh nhân ngẫu nhiên được dùng adalimumab (N=582) liều 80 mg vào Tuần 0 và liều 40 mg vào Tuần 1, tiếp nối bởi 40 mg mỗi 2 tuần (q2w) cho đến Tuần 48 (VOYAGE 1) và Tuần 23 (VOYAGE 2). Trong hai nghiên cứu, bệnh nhân ngẫu nhiên dùng giả dược (N=422) được dùng guselkumab 100 mg tại Tuần 16, 20 và q8w sau đó. Trong nghiên cứu VOYAGE 1, tất cả bệnh nhân, bao gồm bệnh nhân ngẫu nhiên dùng adalimumab tại Tuần 0, đã bắt đầu dùng guselkumab nhãn mở mỗi 8 tuần tại Tuần 52. Trong nghiên cứu VOYAGE 2, bệnh nhân ngẫu nhiên dùng guselkumab tại Tuần 0 đạt đáp ứng chỉ số về độ nặng và diện tích da bị vảy nến (PASI) 90 tại tuần 28 lại được phân ngẫu nhiên hoặc tiếp tục dùng guselkumab mỗi 8 tuần (điều trị duy trì) hoặc dùng giả dược (rút khỏi điều trị). Bệnh nhân rút khỏi điều trị được tái điều trị với guselkumab (khởi liều tại thời gian tái điều trị, 4 tuần sau đó và tiếp nối mỗi 8 tuần) khi bệnh nhân có biểu hiện mất ít nhất 50% cải thiện PASI đạt được tại Tuần 28. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên dùng adalimumab mà không có đáp ứng PASI 90 được dùng guselkumab tại tuần 28 và 32 và mỗi 8 tuần sau đó. Trong VOYAGE 2, tại Tuần 76, tất cả bệnh nhân được dùng guselkumab nhãn mở với liều q8w.
Đặc tính bệnh lý tại thời điểm ban đầu là như nhau trong nhóm quần thể nghiên cứu VOYAGE 1 và 2 với trung vị diện tích bề mặt cơ thể (BSA) tương ứng là 22% và 24%, điểm PASI trung vị tại thời điểm ban đầu là 19 cho hai nghiên cứu, trung vị chỉ số chất lượng cuộc sống của bệnh da liễu (DLQI) tại thời điểm ban đầu là 14 và 14,5; điểm đánh giá tổng thể của nghiên cứu viên (IGA) về mức độ nặng tại thời điểm ban đầu là 25% và 23% bệnh nhân, và tiền sử viêm khớp vảy nến tương ứng là 19% và 18% bệnh nhân.
Trong tất cả bệnh nhân tham gia VOYAGE 1 và 2, có tương ứng 32% và 29% bệnh nhân chưa từng điều trị thuốc sinh học và thuốc toàn thân kinh điển, 54% và 57% trước đó đã điều trị bằng quang trị liệu, 62% và 64% trước đó đã điều trị thuốc toàn thân kinh điển. Trong cả hai nghiên cứu, 21% đã điều trị thuốc sinh học trước đó, bao gồm 11% dùng ít nhất một thuốc ức chế yếu tố hoại tử u alpha (TNFα), và khoảng 10% dùng một thuốc ức chế IL-12/IL-23.
Hiệu quả của guselkumab được đánh giá liên quan đến biểu hiện bệnh lý trên da nói chung, bệnh lý theo vùng (da đầu, tay, chân và móng) và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Đồng tiêu chí chính trong VOYAGE 1 và 2 là tỷ lệ bệnh nhân đạt được điểm IGA sạch hoặc tối thiểu (IGA 0/1) và một đáp ứng PASI 90 tại tuần 16 so với giả dược (xem Bảng 1).
Bệnh lý da nói chung
Điều trị với guselkumab làm cải thiện đáng kể trong đánh giá hoạt tính bệnh so với giả dược và adalimumab tại Tuần 16 và so với adalimumab tại Tuần 24 và 48. Kết quả về hiệu quả chính của tiêu chí nghiên cứu chính và tiêu chí thứ cấp chủ yếu được trình bày trong Bảng 1 dưới đây.
- xem Bảng 1

Image from Drug Label Content

Đáp ứng theo thời gian
Guselkumab đã chứng tỏ khởi phát hiệu quả nhanh, với tỷ lệ phần trăm cao hơn đáng kể về cải thiện PASI so với giả dược tại thời điểm sớm Tuần 2 (p < 0,001). Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân đạt đáp ứng PASI 90 là cao hơn đáng kể ở guselkumab so với adalimumab bắt đầu từ Tuần 8 với sự khác biệt đạt tối đa đạt được khoảng Tuần 20 (VOYAGE 1 và 2) và duy trì đến Tuần 48 (VOYAGE 1) (xem Hình 1).
- xem Hình 1

Image from Drug Label Content

Trong VOYAGE 1, đối với những bệnh nhân tiếp tục điều trị guselkumab, tỷ lệ đáp ứng PASI 90 được duy trì từ Tuần 52 đến Tuần 156. Đối với bệnh nhân ngẫu nhiên dùng adalimumab tại Tuần 0 được bắt chéo dùng guselkumab tại Tuần 52, tỷ lệ đáp ứng PASI 90 đã tăng từ Tuần 52 đến Tuần 76 và duy trì đến Tuần 156 (xem Hình 2).
- xem Hình 2

Image from Drug Label Content

Tính an toàn và hiệu quả của guselkumab đã được xác định là không liên quan đến tuổi, giới tính, chủng tộc, cân nặng, vị trí mảng vảy nến, độ nặng PASI tại thời điểm ban đầu, viêm khớp vảy nến đồng thời, và điều trị trước đó với một thuốc sinh học. Guselkumab có hiệu quả ở những bệnh nhân chưa từng được điều trị thuốc toàn thân kinh điển, chưa từng dùng thuốc sinh học và đã dùng thuốc sinh học.
Trong VOYAGE 2, 88,6% bệnh nhân điều trị duy trì bằng guselkumab tại Tuần 48 là những người đạt đáp ứng PASI 90 so với 36,8% bệnh nhân rút khỏi điều trị tại Tuần 28 (p <0,001). Mất đáp ứng PASI 90 đã ghi nhận sớm nhất là 4 tuần sau khi rút khỏi điều trị guselkumab với trung vị thời gian mất đáp ứng PASI 90 khoảng tuần 15. Trong số bệnh nhân rút khỏi điều trị và tái điều trị với guselkumab, 80% đã tái đạt được đáp ứng PASI 90 khi đánh giá ở tuần 20 sau khi rút khỏi điều trị.
Trong VOYAGE 2, trong số 112 bệnh nhân phân nhóm ngẫu nhiên dùng adalimumab không đạt đáp ứng PASI 90 tại Tuần 28, 66% và 76% đã đạt đáp ứng PASI 90 sau 20 tuần và 44 tuần điều trị với guselkumab. Ngoài ra, trong số 95 bệnh nhân ngẫu nhiên dùng guselkumab không đạt đáp ứng PASI 90 tại Tuần 28, 36% và 41% đã đạt đáp ứng PASI 90 trong 20 và 44 tuần sau đó khi điều trị tiếp tục với guselkumab. Không có phát hiện mới về an toàn ở bệnh nhân chuyển từ điều trị adalimumab sang guselkumab.
Bệnh lý theo vùng
Trong VOYAGE 1 và 2, khi so sánh với bệnh nhân dùng giả dược tại Tuần 16 (p <0,001; Bảng 2), những bệnh nhân dùng guselkumab đã thấy cải thiện đáng kể vảy nến trên da đầu, bàn tay và bàn chân, và móng (được xác định bởi Đánh giá  tổng thể của Nghiên cứu viên chuyên biệt cho da đầu [ss-IGA], Đánh giá tổng thể của Bác sĩ về tay và / hoặc chân [hf-PGA], Đánh giá tổng thể của Bác sĩ về móng tay [f-PGA] và Chỉ số về độ nặng của vảy nến móng [NAPSI]). Đã xác định guselkumab vượt trội so với adalimumab về vảy nến trên da đầu, tay và chân tại Tuần 24 (VOYAGE 1 và 2) và Tuần 48 (VOYAGE 1) (p < 0,001; ngoại trừ vảy nến bàn tay và bàn chân tại Tuần 24 [VOYAGE 2] và Tuần 48 [VOYAGE 1], p < 0,05).
- xem Bảng 2

Image from Drug Label Content

Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe/ kết quả được báo cáo bởi bệnh nhân
Qua VOYAGE 1 và 2, nhóm bệnh nhân dùng guselkumab có sự cải thiện tốt hơn đáng kể về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được đánh giá bởi Chỉ số Chất lượng cuộc sống về da liễu (DLQI) và báo cáo của bệnh nhân về các triệu chứng vảy nến (ngứa, đau, nóng rát, châm chích và căng da) và các dấu hiệu (khô da, nứt da, tróc vảy, lột da hoặc bong da, đỏ da và chảy máu) qua Nhật ký về triệu chứng và dấu hiệu bệnh vảy nến (PSSD) so với dùng giả dược tại Tuần 16 (Bảng 3). Dấu hiệu cải thiện kết quả được báo cáo bởi bệnh nhân đã được duy trì đến Tuần 24 (VOYAGE 1 và 2) và Tuần 48 (VOYAGE 1). Trong VOYAGE 1, đối với bệnh nhân tiếp tục dùng guselkumab, sự cải thiện này được duy trì trong pha nhãn mở đến Tuần 156 (Bảng 4).
- xem Bảng 3 & 4

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content

Trong VOYAGE 2, so với dùng giả dược, những bệnh nhân dùng guselkumab có cải thiện tốt hơn đáng kể so với ban đầu khi đánh giá về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, lo âu và trầm cảm, và giới hạn công việc tại Tuần 16, được đánh giá bởi Câu hỏi điều tra sức khỏe theo Biểu mẫu rút gọn 36 mục (SF-36), Thang điểm về lo âu và trầm cảm tại bệnh viện (HADS), và Câu hỏi giới hạn công việc (WLQ). Cải thiện trong SF-36, HADS và WLQ đã được duy trì đến Tuần 48 và trong giai đoạn nhãn mở đến Tuần 156 trong số những bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào nhóm điều trị duy trì tại Tuần 28.
* NAVIGATE
Nghiên cứu NAVIGATE đánh giá hiệu quả của guselkumab ở những bệnh nhân có đáp ứng không đầy đủ (bệnh nhân không đạt được đáp ứng “sạch” hoặc “tối thiểu” xác định bởi IGA ≥ 2) với ustekinumab tại Tuần 16. Tất cả bệnh nhân (N=871) được nhận ustekinumab nhãn mở (45 mg ≤ 100 kg và 90 mg > 100 kg) tại Tuần 0 và 4. Tại tuần 16, 268 bệnh nhân với điểm IGA ≥ 2 được phân ngẫu nhiên hoặc dùng tiếp ustekinumab (N=133) mỗi 12 tuần, hoặc bắt đầu dùng guselkumab (N=135) tại Tuần 16, 20 và mỗi 8 tuần sau đó. Các đặc điểm ban đầu của bệnh nhân được phân ngẫu nhiên là tương tự như các ghi nhận trong VOYAGE 1 và 2.
Sau khi phân ngẫu nhiên, tiêu chí chính là số lần thăm khám giữa Tuần 12 và 24 mà bệnh nhân đạt được điểm IGA 0/1 và đạt độ cải thiện ≥ 2. Bệnh nhân được thăm khám mỗi 4 tuần với tổng số lần thăm khám là 4. Trong số những bệnh nhân đáp ứng không đầy đủ với ustekinumab tại thời điểm phân ngẫu nhiên, những bệnh nhân chuyển sang dùng guselkumab ghi nhận cải thiện về hiệu quả tốt hơn đáng kể so với những bệnh nhân tiếp tục dùng ustekinumab. Giữa tuần 12 và 24 sau phân ngẫu nhiên, bệnh nhân dùng guselkumab đạt được điểm IGA 0/1 với độ cải thiện ≥ 2 là gấp đôi so với bệnh nhân dùng ustekinumab (trung bình 1,5 so với 0,7 thăm khám, p < 0,001). Hơn nữa, tại tuần 12 sau phân ngẫu nhiên, so với ustekinumab, tỷ lệ bệnh nhân dùng guselkumab đạt được điểm IGA 0/1 và độ cải thiện ≥ 2 (tương ứng 31,1% so với 14,3%; p = 0,001) và đáp ứng PASI 90 (tương ứng 48% so với 23%, p < 0,001) cao hơn. Sự khác biệt về tỷ lệ đáp ứng giữa bệnh nhân điều trị guselkumab và ustekinumab được ghi nhận sớm tại tuần 4 sau phân ngẫu nhiên (tương ứng 11,1% và 9%) và đạt tối đa tại 24 tuần sau phân ngẫu nhiên (xem Hình 3). Không có phát hiện mới về an toàn ở bệnh nhân chuyển từ ustekinumab sang guselkumab.
- xem Hình 3

Image from Drug Label Content

* ECLIPSE
Hiệu quả và an toàn của guselkumab được đánh giá trong một nghiên cứu mù đôi so sánh với secukinumab. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên dùng guselkumab (N=534; 100 mg tại Tuần 0, 4 và mỗi 8 tuần sau đó), hoặc secukinumab (N=514; 300 mg tại Tuần 0, 1, 2, 3, 4, và mỗi 4 tuần sau đó). Liều cuối cùng vào tuần 44 cho cả hai nhóm.
Đặc điểm bệnh học tại thời điểm ban đầu là như nhau với một nhóm dân số bị vảy nến thể mảng trung bình đến nặng có trung vị BSA là 20%, trung vị điểm PASI là 18, và điểm IGA nặng ở 24% bệnh nhân.
Guselkumab đã vượt trội secukinumab khi được đánh giá bởi tiêu chí chính là đáp ứng PASI 90 tại Tuần 48 (84,5% so với 70,0%, p < 0,001). So sánh tỷ lệ đáp ứng PASI được trình bày tại Bảng 5.
- xem Bảng 5

Image from Drug Label Content

Tỷ lệ đáp ứng PASI 90 đối với guselkumab và secukinumab PASI 90 đến Tuần 48 được trình bày trong Hình 4
- xem Hình 4

Image from Drug Label Content

Viêm khớp vảy nến (PsA)
Guselkumab đã cho thấy cải thiện dấu hiệu và triệu chứng, chức năng thực thể và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, và giảm tỷ lệ tiến triển tổn thương khớp ngoại vi ở bệnh nhân người lớn mắc viêm khớp vảy nến thể hoạt động.
* DISCOVER 1 và DISCOVER 2
Hai nghiên cứu pha III ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược (DISCOVER 1 và DISCOVER 2) đánh giá hiệu quả và an toàn của guselkumab so với giả dược ở bệnh nhân người lớn bị viêm khớp vảy nến thể hoạt động (≥ 3 khớp sưng và ≥ 3 khớp đau, và nồng độ protein phản ứng C (CRP) ≥ 0,3 mg/dL trong nghiên cứu DISCOVER 1, và ≥ 5 khớp sưng và  ≥ 5 khớp đau, và nồng độ CRP ≥ 0,6 mg/dL trong nghiên cứu DISCOVER 2), mặc dù đã dùng các thuốc DMARD tổng hợp thường quy, apremilast, hoặc các trị liệu bằng thuốc chống viêm không steroid (NSAID). Những bệnh nhân trong các nghiên cứu này đã được chẩn đoán viêm khớp vảy nến dựa trên Tiêu chuẩn Phân loại viêm khớp vảy nến [CASPAR]) với trung vị điều trị là 4 năm. Những bệnh nhân với các thể bệnh viêm khớp vảy nến khác nhau được thu nhận vào cả hai nghiên cứu, bao gồm viêm đa khớp mà không có nốt thấp (40%), viêm cột sống kèm viêm khớp ngoại vi (30%), viêm khớp ngoại vi không đối xứng (23%), viêm khớp liên đốt xa (7%) và viêm khớp biến dạng nặng (arthritis multilans) (1%). Trên 65% và 42% bệnh nhân mắc viêm điểm bám gân và viêm ngón tại thời điểm ban đầu, và trên 75% bệnh nhân có ≥ 3% BSA liên quan đến vảy nến trên da. DISCOVER 1 và DISCOVER 2 đánh giá 381 và 739 bệnh nhân tương ứng, những bệnh nhân này được điều trị guselkumab 100 mg Tuần 0 và 4, sau đó dùng mỗi 8 tuần hoặc guselkumab 100 mg mỗi 4 tuần hoặc giả dược. Tại Tuần 24, bệnh nhân dùng giả dược trong cả hai nghiên cứu được chuyển sang dùng guselkumab 100 mg mỗi 4 tuần. Khoảng 58% bệnh nhân trong cả hai nghiên cứu tiếp tục dùng liều MTX ổn định (≤ 25 mg/tuần).
Trong cả hai nghiên cứu trên 90% bệnh nhân đã dùng DMARD tổng hợp thường quy trước đó. Trong nghiên cứu DISCOVER 1, 31% bệnh nhân đã điều trị bằng thuốc kháng TNFα trước đó. Trong nghiên cứu DISCOVER 2, tất cả bệnh nhân đều chưa dùng trị liệu sinh học trước đó.
* Dấu hiệu và triệu chứng
Điều trị bằng guselkumab nhận được kết quả cải thiện đáng kể so với giả dược khi đo lường hoạt tính bệnh tại Tuần 24. Tiêu chí chính trong cả hai nghiên cứu là tỷ lệ bệnh nhân đạt đáp ứng theo thang điểm Hội thấp khớp Hoa Kỳ ACR 20 tại Tuần 24. Kết quả về hiệu quả chính được thể hiện trong Bảng 6.
- xem Bảng 6

Image from Drug Label Content

Đáp ứng lâm sàng được duy trì đến Tuần 52 khi đánh giá bằng tỷ lệ đáp ứng ACR 20/50/70, DAS 28 (CRP), MDA, IGA và PASI 90 (xem Bảng 7).
- xem Bảng 7

Image from Drug Label Content

Đáp ứng theo thời gianTrong nghiên cứu DISCOVER 2, ngay Tuần 4 đã sớm quan sát thấy đáp ứng ACR 20 cao hơn ở cả hai nhóm guselkumab so với giả dược và sự khác biệt trong trị liệu tiếp tục tăng theo thời gian đến Tuần 24 (Hình 5).
- xem Hình 5

Image from Drug Label Content

Trong nghiên cứu DISCOVER 2, những bệnh nhân điều trị bằng guselkumab liên tục có đáp ứng ACR 20 duy trì từ Tuần 24 đến Tuần 52 (xem Hình 6).
- xem Hình 6

Image from Drug Label Content

Đáp ứng quan sát thấy trong các nhóm guselkumab là tương tự nhau dù có dùng đồng thời với DMARD tổng hợp thường quy hay không, bao gồm MTX (DISCOVER 1 và 2). Thêm vào đó, kiểm tra tuổi, giới tính, chủng tộc, cân nặng và sử dụng DMARD tổng hợp thường quy trước đó (DISCOVER 1 và 2) và dùng thuốc kháng TNFα trước đó (DISCOVER 1), không có sự khác biệt trong đáp ứng với guselkumab giữa các phân nhóm này.
Trong nghiên cứu DISCOVER 1 và 2, đã thấy cải thiện trong tất cả các thành phần của các điểm ACR bao gồm đánh giá đau trên bệnh nhân. Tại Tuần 24 trong cả hai nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân đạt đáp ứng theo tiêu chí đáp ứng viêm khớp vảy nến sửa đổi (PsARC) lớn hơn ở các nhóm guselkumab so với giả dược. Đáp ứng PsARC được duy trì từ Tuần 24 đến Tuần 52.
Viêm ngón và viêm điểm bám gân được đánh giá dựa trên dữ liệu tổng hợp từ nghiên cứu DISCOVER 1 và 2. Tại Tuần 24, trong số những bệnh nhân viêm ngón tại thời điểm ban đầu, tỷ lệ giảm bệnh viêm ngón ở nhóm guselkumab liều mỗi 8 tuần (59,4%, p danh nghĩa < 0,001) và nhóm liều mỗi 4 tuần (63,5%, p=0,006) cao hơn so với giả dược (42,2%). Tại Tuần 24, trong số những bệnh nhân viêm điểm bám gân tại thời điểm ban đầu, tỷ lệ giảm viêm điểm bám gân ở nhóm guselkumab liều mỗi 8 tuần (49,6%, p danh nghĩa < 0,001) và liều mỗi 4 tuần (44,9%, p=0,006) cao hơn so với giả dược (29,4%). Tại Tuần 52, duy trì được tỷ lệ bệnh nhân giảm viêm ngón (81,2% trong nhóm liều mỗi 8 tuần và 80,4% trong nhóm liều mỗi 4 tuần) và giảm viêm điểm bám gân (62,7% trong nhóm liều mỗi 8 tuần và 60,9% trong nhóm liều mỗi 4 tuần).
Trong nghiên cứu DISCOVER 1 và 2, bệnh nhân ban đầu mắc bệnh viêm cột sống kèm viêm khớp ngoại vi được điều trị bằng guselkumab cho kết quả cải thiện chỉ số hoạt động bệnh viêm cột sống dính khớp (BASDAI) cao hơn so với giả dược tại Tuần 24. Cải thiện BASDAI được duy trì từ Tuần 24 đến Tuần 52.
Đáp ứng trên X quang
Trong nghiên cứu DISCOVER 2, ức chế tiến triển tổn thương cấu trúc được đo trên hình ảnh X quang và thể hiện bằng thay đổi trung bình tổng điểm số van der Heijde-Sharp sửa đổi (vdH-S) so với thời điểm ban đầu. Tại Tuần 24, nhóm điều trị guselkumab mỗi 4 tuần cho thấy tiến triển trên hình ảnh X quang ít hơn đáng kể có ý nghĩa thống kê và nhóm điều trị guselkumab mỗi 8 tuần cho thấy tiến triển ít hơn về mặt số lượng so với giả dược (Bảng 8). Lợi ích quan sát được của chế độ liều guselkumab mỗi 4 tuần về ức chế tiến triển trên hình ảnh X quang (tức là, thay đổi trung bình điểm số so với thời điểm ban đầu về tổng điểm vdH-S sửa đổi trong nhóm dùng liều mỗi 4 tuần ít hơn so với giả dược) được công bố nhiều nhất ở những bệnh nhân tại thời điểm ban đầu có giá trị protein phản ứng C cao và số lượng khớp mòn nhiều.
- xem Bảng 8

Image from Drug Label Content

Tại Tuần 52, thay đổi trung bình tổng điểm vdH-S sửa đổi so với thời điểm ban đầu là tương tự ở nhóm guselkumab mỗi 8 tuần và nhóm mỗi 4 tuần (Bảng 9).
- xem Bảng 9

Image from Drug Label Content

Chức năng thực thể và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
Trong nghiên cứu DISCOVER 1 và 2, những bệnh nhân điều trị bằng guselkumab cho thấy cải thiện đáng kể (p<0,001) về chức năng thực thể so với giả dược khi đánh giá bằng Bộ câu hỏi đánh giá sức khỏe-chỉ số khuyết tật (HAQ-DI) tại Tuần 24. Cải thiện HAQ-DI được duy trì từ Tuần 24 đến Tuần 52.
Những bệnh nhân điều trị bằng guselkumab đã có cải thiện về điểm số Tóm tắt thành phần thực thể (PCS) SF-36 so với thời điểm ban đầu lớn hơn đáng kể so với giả dược tại Tuần 24 trong nghiên cứu DISCOVER 1 (p < 0,001 cho cả hai nhóm liều) và DISCOVER 2 (p = 0,006 trong nhóm dùng liều mỗi 4 tuần). Tại tuần 24, đã quan sát thấy điểm Đánh giá chức năng của các liệu pháp điều trị bệnh mạn tính-mệt mỏi (FACIT-F) ở nhóm điều trị bằng guselkumab tăng so với thời điểm ban đầu cao hơn so với giả dược ở cả hai nghiên cứu. Trong nghiên cứu DISCOVER 2, đã quan sát thấy cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe đánh giá bằng Chỉ số chất lượng cuộc sống của bệnh da liễu (DLQI) ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng guselkumab cao hơn giả dược tại Tuần 24. Cải thiện điểm SF-36 PCS, FACIT-F và DLQI được duy trì từ Tuần 24 đến Tuần 52.
Dân số bệnh nhân nhi
Cơ quan quản lý thuốc Châu âu đã trì hoãn yêu cầu nộp kết quả nghiên cứu TREMFYA trên bệnh nhân vảy nến thể mảng và viêm khớp vảy nến ở một hoặc nhiều phân nhóm dân số trẻ em (xem mục 4.2 để có thông tin về sử dụng trên bệnh nhân nhi).
Đặc tính dược động học
Hấp thu
Sau liều duy nhất tiêm dưới da 100 mg ở đối tượng khỏe mạnh, guselkumab đạt nồng độ tối đa trong huyết thanh (Cmax) trung bình (± SD) 8,09 ± 3,68 mcg/mL vào khoảng ngày 5,5 sau tiêm.
Nồng độ guselkumab huyết thanh đạt được trạng thái ổn định ở Tuần 20 sau tiêm dưới da guselkumab 100 mg tại Tuần 0 và 4, và mỗi 8 tuần sau đó. Nồng độ đáy ở trạng thái ổn định của guselkumab trong huyết thanh trung bình (± SD) trong hai nghiên cứu Pha III cho bệnh nhân vảy nến thể mảng là 1,15 ± 0,73 mcg/mL và 1,23 ± 0,84 mcg/mL.
Dược động học của guselkumab ở những bệnh nhân viêm khớp vảy nến là tương tự với những bệnh nhân vảy nến. Sau khi tiêm dưới da TREMFYA 100 mg tại Tuần 0, 4 và mỗi 8 tuần sau đó, nồng độ đáy guselkumab trong huyết thanh ở trạng thái ổn định cũng xấp xỉ 1,2 mcg/mL. Sau khi tiêm dưới da TREMFYA 100 mg mỗi 4 tuần, nồng độ đáy guselkumab trong huyết thanh ở trạng thái ổn định là xấp xỉ 3,8 mcg/mL.
Sinh khả dụng tuyệt đối của guselkumab sau tiêm dưới da liều duy nhất guselkumab 100 mg vào khoảng 49% ở người khỏe mạnh.
Phân phối
Thể tích phân phối trung bình pha cuối (Vz) sau liều duy nhất đường tĩnh mạch ở người khỏe mạnh vào khoảng 7 đến 10 L trong toàn bộ các nghiên cứu.
Chuyển dạng sinh học
Chưa mô tả được con đường chuyển hóa chính xác của guselkumab. Cũng như IgGmAb người, guselkumab được cho là bị phân hóa thành các peptide nhỏ và amino acid thông qua con đường dị hóa giống như IgG nội sinh.
Thải trừ
Thanh thải toàn thân trung bình (CL) sau liều duy nhất đường tĩnh mạch ở người khỏe mạnh trong khoảng 0,288 đến 0,479 L/ngày trong các nghiên cứu. Thời gian bán thải trung bình (T1/2) của guselkumab khoảng 17 ngày ở người khỏe mạnh và khoảng 15 đến 18 ngày ở người bị vảy nến thể mảng trong các nghiên cứu.
Phân tích dược động học quần thể cho thấy dùng đồng thời với các NSAID, các corticosteroid đường uống và các DMARD tổng hợp thường quy như methotrexate không ảnh hưởng tới độ thanh thải của guselkumab.
Tuyến tính / không tuyến tính
Nồng độ toàn thân của guselkumab (Cmax và AUC) đã tăng trong khoảng tuyến tính với liều sau khi tiêm dưới da liều duy nhất từ 10 mg đến 300 mg ở người khỏe mạnh hoặc ở bệnh nhân vảy nến thể mảng.
Người cao tuổi
Chưa có nghiên cứu đặc hiệu ở bệnh nhân cao tuổi. Trong số 1.384 bệnh nhân bị vảy nến thể mảng sử dụng guselkumab trong các thử nghiệm lâm sàng pha III và trong các phân tích dược động học quần thể, có 70 bệnh nhân ≥ 65 tuổi, bao gồm 4 bệnh nhân ≥ 75 tuổi. Trong số 746 bệnh nhân viêm khớp vảy nến đã dùng guselkumab trong các thử nghiệm lâm sàng pha III, có tổng số 38 bệnh nhân tuổi từ 65 trở lên và không có bệnh nhân nào từ 75 tuổi trở lên.
Phân tích dược động học quần thể trên bệnh nhân vảy nến thể mảng và viêm khớp vảy nến cho thấy không có sự thay đổi rõ ràng trong CL/F ước tính ở bệnh nhân ≥ 65 tuổi so với bệnh nhân < 65 tuổi, điều này gợi ý không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi.
Bệnh nhân suy thận hoặc suy gan
Chưa có nghiên cứu đặc hiệu để xác định ảnh hưởng của suy thận hoặc suy gan đến dược động học của guselkumab. Sự thải trừ qua thận của guselkumab nguyên vẹn là một IgG mAb, được cho là thấp và ít quan trọng; tương tự, suy gan không được cho là ảnh hưởng đến thanh thải guselkumab do các IgG mAb được đào thải chủ yếu qua chuyển hóa bên trong tế bào.
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy không có nguy hại đặc hiệu cho người dựa trên các nghiên cứu quy ước về dược lý an toàn, độc tính liều lặp lại, độc tính đến khả năng sinh sản và sự phát triển trước và sau khi sinh.
Các nghiên cứu về độc tính liều lặp lại ở khỉ cynomolgus, guselkumab được dung nạp tốt qua đường tiêm dưới da và tĩnh mạch. Liều tiêm dưới da mỗi tuần 50 mg/kg cho khỉ đã tạo ra các giá trị nồng độ (AUC) và Cmax tăng cao tương ứng ít nhất 49 lần và > 200 lần so với nồng độ trong các nghiên cứu dược động học ở người. Hơn nữa, không ghi nhận tác dụng dược lý an toàn trên tim mạch hoặc nhiễm độc miễn dịch bất lợi trong khi tiến hành các nghiên cứu độc tính liều lặp lại hoặc trong một nghiên cứu dược lý an toàn trên tim mạch ở khỉ cynomolgus.
Không quan sát thấy những kiểu thay đổi như ở giai đoạn trước khi phát triển khối u trong các đánh giá mô bệnh học của động vật đã dùng đến 24 tuần, hoặc sau giai đoạn hồi phục 12 tuần mà thuốc có thể được phát hiện trong huyết thanh.
Chưa tiến hành nghiên cứu về khả năng đột biến hoặc gây ung thư với guselkumab.
Không xác định được guselkumab trong sữa của khỉ cynomolgus khi định lượng tại ngày 28 sau sinh.
Chỉ định/Công dụng
Vảy nến thể mảng: TREMFYA được chỉ định điều trị bệnh vảy nến thể mảng trung bình đến nặng ở bệnh nhân người lớn có chỉ định điều trị toàn thân.
Viêm khớp vảy nến: TREMFYA đơn trị liệu hoặc phối hợp với methotrexate (MTX) được chỉ định để điều trị viêm khớp vảy nến thể hoạt động ở bệnh nhân người lớn đáp ứng không đầy đủ hoặc không dung nạp với một trị liệu dùng thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm (DMARD) trước đó (xem mục Dược lý - Đặc tính dược lực học).
Liều dùng/Hướng dẫn sử dụng
TREMFYA được sử dụng dưới sự hướng dẫn và giám sát của bác sĩ có kinh nghiệm trong chẩn đoán và điều trị các bệnh thuộc chỉ định của TREMFYA.
Liều dùng
Vảy nến thể mảng
Liều khuyến cáo là TREMFYA 100 mg tiêm dưới da vào tuần 0 và 4, tiếp nối bởi một liều duy trì mỗi 8 tuần.
Nên cân nhắc ngừng điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng sau 16 tuần điều trị.
Viêm khớp vảy nến
Liều khuyến cáo là TREMFYA 100 mg tiêm dưới da vào tuần 0 và 4, tiếp nối bởi một liều duy trì mỗi 8 tuần. Đối với bệnh nhân nguy cơ cao bị tổn thương khớp dựa trên đánh giá lâm sàng, có thể cân nhắc liều 100 mg mỗi 4 tuần (xem mục Dược lý - Đặc tính dược lực học).
Nên cân nhắc ngừng điều trị ở những bệnh nhân không đáp ứng sau 24 tuần điều trị.
Đối tượng đặc biệt
Người cao tuổi (≥ 65 tuổi): Không cần chỉnh liều (xem mục Dược lý - Đặc tính dược động học). Thông tin trên bệnh nhân ≥ 65 tuổi còn hạn chế và trên bệnh nhân ≥ 75 tuổi còn rất hạn chế (xem mục Dược lý - Đặc tính dược động học).
Suy gan hoặc suy thận: TREMFYA chưa được nghiên cứu trên nhóm đối tượng này. Chưa có khuyến cáo về liều điều trị. Để có thêm thông tin về thải trừ guselkumab, xem mục Dược lý - Đặc tính dược động học.
Đối tượng bệnh nhân nhi: Tính an toàn và hiệu quả của TREMFYA trên trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được xác định. Chưa có dữ liệu liên quan.
Cách dùng
Tiêm dưới da. Nếu có thể, nên tránh tiêm tại vùng da có biểu hiện vảy nến.
Sau khi được hướng dẫn đầy đủ về kỹ thuật tiêm dưới da, bệnh nhân có thể tự tiêm TREMFYA nếu được bác sĩ xác định rằng điều này là phù hợp. Tuy nhiên, bác sĩ cần đảm bảo bệnh nhân được theo dõi phù hợp về mặt y khoa. Bệnh nhân nên được hướng dẫn để tiêm toàn bộ lượng TREMFYA theo “Hướng dẫn sử dụng” được cung cấp trong hộp thuốc.
Để có thêm hướng dẫn về chuẩn bị và thận trọng đặc biệt trong khi sử dụng, xin tham khảo mục Thận trọng lúc dùng - Thận trọng đặc biệt khi tiêu hủy và xử lý khác và “Hướng dẫn sử dụng”.
Chống chỉ định
Quá mẫn nghiêm trọng với hoạt chất hoặc với bất kỳ tá dược nào nêu trong mục Mô tả.
Các nhiễm trùng thể hoạt động quan trọng về lâm sàng (ví dụ như lao thể hoạt động, xem mục Cảnh báo và thận trọng).
Cảnh báo và thận trọng
Khả năng truy xuất thuốc
Để cải thiện khả năng truy xuất các thuốc sinh phẩm, nên ghi lại rõ tên thuốc và số lô của thuốc đã sử dụng.
Nhiễm trùng
TREMFYA có thể gây tăng nguy cơ nhiễm trùng. Không nên bắt đầu điều trị với TREMFYA ở những bệnh nhân có bất kỳ nhiễm trùng thể hoạt động quan trọng về mặt lâm sàng cho đến khi nhiễm trùng đó được giải quyết hoặc được điều trị đầy đủ.
Nên hướng dẫn bệnh nhân điều trị TREMFYA phải tìm tư vấn y khoa nếu có các dấu hiệu hoặc triệu chứng của tình trạng nhiễm trùng cấp hoặc mạn quan trọng về mặt lâm sàng. Nếu bệnh nhân xuất hiện một nhiễm trùng quan trọng về lâm sàng hoặc nghiêm trọng hoặc không đáp ứng với điều trị chuẩn, bệnh nhân nên được theo dõi sát và nên ngừng điều trị TREMFYA cho đến khi nhiễm trùng đó được giải quyết.
Đánh giá lao trước điều trị
Trước khi bắt đầu điều trị với TREMFYA, bệnh nhân nên được đánh giá về tình trạng nhiễm lao. Nên theo dõi các dấu hiệu và triệu chứng của lao hoạt động trên bệnh nhân dùng TREMFYA trong suốt thời gian điều trị và sau điều trị. Nên cân nhắc điều trị kháng lao trước khi bắt đầu dùng TREMFYA ở những bệnh nhân có tiền sử lao tiềm ẩn hoặc lao thể hoạt động, mà không thể xác định đã được điều trị đầy đủ hay không.
Quá mẫn
Đã có báo cáo về phản ứng quá mẫn nghiêm trọng xảy ra sau khi lưu hành thuốc, bao gồm cả sốc phản vệ. Một số trường hợp phản ứng quá mẫn nghiêm trọng xảy ra vài ngày sau điều trị bằng guselkumab, bao gồm những trường hợp có mày đay và khó thở. Nếu xuất hiện một phản ứng quá mẫn nghiêm trọng, nên ngừng sử dụng TREMFYA ngay và tiến hành điều trị thích hợp.
Tăng transaminase gan
Trong các nghiên cứu lâm sàng trên bệnh viêm khớp vảy nến, đã quan sát thấy tăng tỷ lệ mắc mới enzyme gan tăng ở bệnh nhân điều trị bằng TREMFYA liều mỗi 4 tuần so với bệnh nhân điều trị bằng TREMFYA liều mỗi 8 tuần hoặc giả dược (xem mục Tác dụng không mong muốn, Bảng 11).
Khi kê đơn TREMFYA liều mỗi 4 tuần trên bệnh nhân viêm khớp vảy nến, khuyến cáo nên đánh giá enzyme gan ở thời điểm ban đầu và ở các thời điểm đánh giá bệnh nhân định kỳ sau đó. Nếu thấy tăng aminotransferase [ALT] hoặc aspartate aminotransferase [AST] và nghi ngờ tổn thương gan do thuốc, nên tạm thời ngừng TREMFYA cho đến khi loại bỏ được chẩn đoán này.
Chủng ngừa
Trước khi bắt đầu điều trị với TREMFYA, nên cân nhắc hoàn thành tất cả chủng ngừa theo hướng dẫn chủng ngừa hiện hành. Không nên sử dụng đồng thời vaccine sống ở những bệnh nhân điều trị với TREMFYA. Chưa có dữ liệu về đáp ứng với vaccine sống hoặc bất hoạt.
Trước khi tiêm chủng virus hoặc vi khuẩn sống, nên tạm ngừng điều trị với TREMFYA trong ít nhất 12 tuần sau liều cuối cùng và có thể dùng lại ít nhất 2 tuần sau tiêm chủng. Bác sĩ nên tham khảo Tóm tắt đặc tính sản phẩm của vaccine cụ thể để có thêm thông tin và hướng dẫn về sử dụng đồng thời các thuốc ức chế miễn dịch sau tiêm chủng.
Ảnh hưởng lên khả năng lái xe và vận hành máy móc
TREMFYA không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Sử dụng ở phụ nữ có thai & cho con bú
Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản: Phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nên sử dụng biện pháp tránh thai hiệu quả trong thời gian điều trị và ít nhất 12 tuần sau điều trị.
Mang thai: Chưa có dữ liệu về việc sử dụng guselkumab trên phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy ảnh hưởng có hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến thai kỳ, sự phát triển phôi/bào thai, quá trình sinh đẻ hoặc phát triển sau sinh (xem mục Dược lý - Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng). Để thận trọng, tốt nhất nên tránh dùng TREMFYA trong thai kỳ.
Cho con bú: Chưa rõ liệu guselkumab có được bài tiết vào sữa mẹ hay không. IgG của người được biết là được tiết vào sữa mẹ trong vài ngày sau khi sinh, và giảm nhanh đến nồng độ thấp sau đó; vì vậy, không loại trừ được nguy cơ cho trẻ bú mẹ trong giai đoạn này. Việc quyết định ngừng cho con bú trong thời gian điều trị hay ngừng điều trị với TREMFYA cần được cân nhắc giữa lợi ích của việc cho trẻ bú mẹ và lợi ích của điều trị TREMFYA cho người mẹ. Xem mục Dược lý - Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng để có thông tin về bài tiết của guselkumab vào sữa ở động vật (khỉ cynomolgus).
Khả năng sinh sản: Ảnh hưởng của guselkumab đến khả năng sinh sản chưa được đánh giá. Các nghiên cứu trên động vật không cho thấy ảnh hưởng có hại trực tiếp hoặc gián tiếp đến khả năng sinh sản (xem mục Dược lý - Dữ liệu an toàn tiền sâm sàng).
Tương tác
Tương tác với chất nền CYP450: Trong một nghiên cứu Pha I trên những bệnh nhân vảy nến thể mảng trung bình đến nặng, thay đổi nồng độ toàn thân (Cmax và AUCinf) của midazolam, S-warfarin, omeprazole, dextromethorphan, và caffeine sau một liều duy nhất guselkumab đã không ảnh hưởng về mặt lâm sàng, cho thấy chưa chắc xảy ra tương tác thuốc giữa guselkumab và các chất nền của nhiều enzyme CYP (CYP3A4, CYP2C9, CYP2C19, CYP2D6, và CYP1A2). Không cần điều chỉnh liều khi dùng guselkumab đồng thời với các chất nền CYP450.
Kết hợp với điều trị ức chế miễn dịch hoặc quang trị liệu: Trong các nghiên cứu trên bệnh vảy nến, tính an toàn và hiệu quả của TREMFYA khi kết hợp với thuốc ức chế miễn dịch, bao gồm cả sinh phẩm hoặc quang trị liệu chưa được đánh giá.
Tương kỵ
Không có các nghiên cứu về tính tương thích; không được trộn thuốc này với các thuốc khác.
Tác dụng không mong muốn
Tóm tắt dữ liệu an toàn
Phản ứng bất lợi của thuốc thường gặp nhất là các nhiễm trùng đường hô hấp.
Bảng liệt kê phản ứng bất lợi
Bảng 10 cung cấp danh sách các phản ứng bất lợi từ các nghiên cứu lâm sàng cho bệnh vảy nến và bệnh vảy nến thể mảng cũng như từ kinh nghiệm hậu mãi. Các phản ứng bất lợi này được phân loại theo Hệ cơ quan của MedDRA và tần suất, sử dụng quy ước sau: rất thường gặp (≥ 1/10), thường gặp (≥ 1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000), chưa rõ (không thể ước lượng từ dữ liệu hiện có).
- xem Bảng 10

Image from Drug Label Content

Mô tả phản ứng bất lợi chọn lọc
Transaminases tăng
Trong hai nghiên cứu lâm sàng pha III cho bệnh viêm khớp vảy nến, trong suốt giai đoạn đối chứng với giả dược, đã ghi nhận báo cáo biến cố bất lợi tăng transaminases (bao gồm tăng ALT, tăng AST, tăng enzyme gan, bất thường xét nghiệm chức năng gan, transaminases trong máu cao) ở nhóm điều trị bằng TREMFYA (8,6 % ở nhóm dùng chế độ liều mỗi 4 tuần và 8,3% ở nhóm dùng chế độ liều mỗi 8 tuần) với tần suất nhiều hơn so với nhóm dùng giả dược (4,6%). Trong 1 năm, đã ghi nhận báo cáo biến cố bất lợi tăng transaminases (như kể trên) ở 12,9% bệnh nhân thuộc nhóm dùng liều mỗi 4 tuần và 11,7% bệnh nhân thuộc nhóm dùng liều mỗi 8 tuần.
Dựa trên đánh giá các xét nghiệm, phần lớn trường hợp tăng transaminase (ALT và AST) đều ≤ 3 x giới hạn trên của giá trị bình thường (ULN). Tỷ lệ tăng transaminase > 3 đến ≤ 5 x ULN và > 5 x ULN thấp, xảy ra thường xuyên hơn ở nhóm điều trị TREMFYA với chế độ liều mỗi 4 tuần so với nhóm điều trị TREMFYA với chế độ liều mỗi 8 tuần (Bảng 11). Trong suốt 1 năm, phần lớn các trường hợp tăng transaminase là thoáng qua và không cần phải ngừng điều trị.
- xem Bảng 11

Image from Drug Label Content

Giảm bạch cầu trung tính
Trong 2 nghiên cứu lâm sàng cho bệnh viêm khớp vảy nến, trong suốt giai đoạn đối chứng với giả dược, đã ghi nhận báo cáo biến cố bất lợi giảm bạch cầu trung tính ở nhóm điều trị bằng TREMFYA (0,9%) với tần suất nhiều hơn so với nhóm dùng giả dược (0%). Trong 1 năm, đã ghi nhận báo cáo biến cố bất lợi giảm bạch cầu trung tính ở 0,9% bệnh nhân điều trị bằng TREMFYA. Phần lớn trường hợp giảm bạch cầu trong máu là nhẹ, thoáng qua, không liên quan đến nhiễm trùng và không cần phải ngừng điều trị.
Viêm đường tiêu hóa
Trong hai nghiên cứu lâm sàng Pha III cho bệnh vảy nến trong giai đoạn đối chứng giả dược, viêm đường tiêu hóa xuất hiện thường xuyên hơn ở nhóm điều trị TREMFYA (1,1%) so với nhóm dùng giả dược (0,7%). Cho đến Tuần 156, có 4,9% bệnh nhân dùng TREMFYA đã báo cáo viêm đường tiêu hóa. Phản ứng bất lợi viêm đường tiêu hóa là không nghiêm trọng và đã không dẫn đến ngừng điều trị TREMFYA cho đến Tuần 156. Tỷ lệ viêm đường tiêu hóa trong các nghiên cứu lâm sàng cho bệnh viêm khớp vảy nến trong suốt giai đoạn đối chứng với giả dược là tương tự như quan sát thấy trong các nghiên cứu lâm sàng cho bệnh vảy nến.
Phản ứng tại chỗ tiêm
Trong hai nghiên cứu lâm sàng Pha III cho bệnh vảy nến kéo dài 48 tuần, 0,7% trong nhóm tiêm TREMFYA và 0,3% trong nhóm tiêm giả dược có phản ứng tại chỗ tiêm. Cho đến Tuần 156, có 0,5% bệnh nhân dùng TREMFYA đã báo cáo phản ứng tại chỗ tiêm. Những phản ứng bất lợi tại chỗ tiêm ban đỏ và đau là những biến cố thường được báo cáo nhiều nhất trong các phản ứng bất lợi tại chỗ tiêm và nhìn chung ở mức độ  nhẹ đến trung bình; không nghiêm trọng và đã không dẫn đến ngừng TREMFYA.
Trong hai nghiên cứu lâm sàng pha III cho bệnh viêm khớp vảy nến, số lượng bệnh nhân báo cáo 1 hoặc nhiều phản ứng tại chỗ tiêm là thấp và cao hơn một chút ở nhóm điều trị bằng TREMFYA so với nhóm dùng giả dược; 5 (1,3%) bệnh nhân trong nhóm dùng TREMFYA mỗi 8 tuần, 4 (1,1%) bệnh nhân trong nhóm dùng TREMFYA mỗi 4 tuần và 1 (0,3%) bệnh nhân dùng giả dược. Một bệnh nhân đã ngừng dùng TREMFYA do phản ứng tại chỗ tiêm trong giai đoạn đối chứng với giả dược của các nghiên cứu lâm sàng cho bệnh viêm khớp vảy nến. Trong 1 năm, tỷ lệ bệnh nhân báo cáo 1 hoặc nhiều phản ứng tại chỗ tiêm trong nhóm dùng TREMFYA mỗi 8 tuần và mỗi 4 tuần tương ứng là 1,6% và 2,4%. Nhìn chung, tỷ lệ dùng thuốc có liên quan đến phản ứng tại chỗ tiêm quan sát thấy ở các thử nghiệm lâm sàng cho bệnh viêm khớp vảy nến trong suốt giai đoạn đối chứng với giả dược là tương tự với tỷ lệ quan sát thấy trong các thử nghiệm lâm sàng cho bệnh vảy nến.
Tính sinh miễn dịch
Tính sinh miễn dịch của TREMFYA được đánh giá bằng cách sử dụng xét nghiệm miễn dịch nhạy và dung nạp thuốc.
Trong phân tích gộp Pha II và Pha III ở những bệnh nhân vảy nến và viêm khớp vảy nến, 5% bệnh nhân (n=145) điều trị bằng TREMFYA đã xuất hiện kháng thể kháng thuốc trong 52 tuần điều trị. Trong số các bệnh nhân xuất hiện kháng thể kháng thuốc, khoảng 8% (n=12) có kháng thể được phân loại là trung hòa, tương đương với 0,4% của tất cả các bệnh nhân điều trị bằng TREMFYA. Trong phân tích gộp Pha III ở những bệnh nhân vảy nến, khoảng 9% bệnh nhân dùng TREMFYA xuất hiện kháng thể kháng thuốc trong 156 tuần điều trị. Kháng thể kháng thuốc không liên quan đến hiệu quả thấp hơn hoặc phát triển các phản ứng tại chỗ tiêm.
Báo cáo phản ứng bất lợi nghi ngờ
Việc báo cáo phản ứng bất lợi nghi ngờ sau lưu hành thuốc là quan trọng. Việc báo cáo này cho phép theo dõi liên tục sự cân bằng của lợi ích/nguy cơ của thuốc. Nhân viên y tế được yêu cầu báo cáo phản ứng bất lợi nghi ngờ thông qua hệ thống báo cáo quốc gia.
Quá liều
Đã sử dụng tiêm tĩnh mạch một liều duy nhất guselkumab lên đến 987 mg (10 mg/kg) cho những người tình nguyện khỏe mạnh và tiêm dưới da liều duy nhất guselkumab lên đến 300 mg cho những bệnh nhân vảy nến thể mảng trong các nghiên cứu lâm sàng mà không thấy độc tính giới hạn liều (dose-limiting toxicity). Trong biến cố quá liều, theo dõi bệnh nhân về bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng của phản ứng bất lợi và thực hiện ngay điều trị triệu chứng thích hợp.
Thận trọng lúc dùng
Thận trọng đặc biệt khi tiêu hủy và xử lý khác
Sau khi lấy bơm tiêm đóng sẵn ra khỏi tủ lạnh, bảo quản bơm tiêm trong hộp và đợi khoảng 30 phút trước khi tiêm để đạt nhiệt độ phòng. Không lắc bơm tiêm đóng sẵn thuốc.
Trước khi tiêm, khuyến cáo nên quan sát để kiểm tra bơm tiêm đóng sẵn hoặc thuốc tiêm đóng sẵn. Dung dịch phải trong, không màu đến vàng nhạt, và có thể chứa ít phần tử nhỏ màu trắng hoặc trong. Không nên dùng TREMFYA nếu dung dịch vẩn đục hoặc đổi màu, hoặc chứa những phần tử lớn.
“Hướng dẫn sử dụng” TREMFYA được cung cấp trong mỗi hộp thuốc để mô tả đầy đủ về cách chuẩn bị và sử dụng bơm tiêm đóng sẵn.
Phải hủy bỏ bất kỳ thuốc nào không sử dụng hoặc chất thải y tế theo yêu cầu địa phương.
Hướng dẫn sử dụng TREMFYA - Bơm tiêm đóng sẵn
- xem Hình

Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content


Image from Drug Label Content
Bảo quản
Bảo quản trong tủ lạnh (2oC - 8oC). Không để đông lạnh.
Bảo quản trong bao bì gốc để tránh ánh sáng.
Hạn dùng: 2 năm kể từ ngày sản xuất.
Phân loại MIMS
Thuốc ức chế miễn dịch
Phân loại ATC
L04AC16 - guselkumab ; Belongs to the class of interleukin inhibitors. Used as immunosuppressants.
Trình bày/Đóng gói
Dạng
Tremfya Bơm tiêm đóng sẵn thuốc 100 mg/mL
Trình bày/Đóng gói
1's