Đặc tính dược lực học
Nhóm dược lý điều trị: Ức chế miễn dịch, ức chế interleukin, mã ATC: L04AC16.
Cơ chế tác dụng
Guselkumab là một kháng thể đơn dòng (mAb) IgG1λ của người gắn kết một cách có chọn lọc với protein interleukin 23 (IL-23) với độ đặc hiệu và ái lực cao. IL-23, một cytokine điều hòa, ảnh hưởng đến sự biệt hóa, sự phát triển và sự sống còn của các phân nhóm tế bào T, (ví dụ tế bào Th17 và tế bào Tc17) và các phân nhóm tế bào miễn dịch bẩm sinh, đại diện cho nguồn cytokine phản ứng, bao gồm IL-17A, IL-17F và IL-22 dẫn đến bệnh lý viêm. Ở người, việc ức chế chọn lọc IL-23 đã được chứng minh là bình thường hóa việc sản xuất các cytokine này.
Nồng độ IL-23 tăng lên trong da của bệnh nhân bị bệnh vảy nến thể mảng. Trong các mô hình
in vitro, guselkumab đã được chứng minh là ức chế hoạt tính sinh học của IL-23 bằng cách ngăn chặn sự tương tác của nó với thụ thể IL-23 trên bề mặt tế bào, phá vỡ tín hiệu qua trung gian IL-23, sự hoạt hóa và điều hành cytokine. Guselkumab thể hiện tác dụng lâm sàng trong bệnh vảy nến thể mảng thông qua phong tỏa con đường cytokine IL-23.
Tác dụng dược lực học
Trong một nghiên cứu Pha I, điều trị bằng guselkumab làm giảm biểu hiện gen của con đường IL-23/Th17 và các biểu hiện gen liên quan đến bệnh vảy nến, như được trình bày bằng phân tích mRNA thu được từ sinh thiết da tổn thương của bệnh nhân bị bệnh vảy nến thể mảng ở Tuần 12 so với ban đầu. Trong cùng nghiên cứu Pha I này, điều trị với guselkumab dẫn đến cải thiện các đánh giá mô học của bệnh vảy nến ở Tuần 12, bao gồm giảm độ dày biểu bì và mật độ tế bào T. Hơn nữa, giảm nồng độ IL-17A, IL-17F và IL-22 trong huyết thanh so với giả dược đã được quan sát thấy ở bệnh nhân được điều trị bằng guselkumab trong các nghiên cứu Pha II và Pha III cho bệnh vảy nến thể mảng. Những kết quả này phù hợp với lợi ích lâm sàng quan sát được với điều trị guselkumab trong bệnh vảy nến thể mảng.
Trong những bệnh nhân viêm khớp vảy nến trong các nghiên cứu pha III, tại thời điểm ban đầu đã thấy tăng nồng độ protein phản ứng C, amyloid A huyết thanh, và IL-6, và Th17 cytokine phản ứng IL-17A, IL-17F và IL-22. Guselkumab làm giảm nồng độ các protein này trong 4 tuần kể từ khi bắt đầu điều trị. Guselkumab làm giảm hơn nữa nồng độ các protein này đến Tuần 24 so với thời điểm ban đầu và cũng như so với giả dược.
An toàn và hiệu quả trên lâm sàng
Vảy nến thể mảng
Tính an toàn và hiệu quả của guselkumab đã được đánh giá trong ba nghiên cứu Pha III ngẫu nhiên, mù đôi, đối chứng hoạt chất ở bệnh nhân người lớn bị vảy nến thể mảng trung bình đến nặng có chỉ định quang trị liệu hoặc điều trị toàn thân.
* VOYAGE 1 và VOYAGE 2
Hai nghiên cứu (VOYAGE 1 và VOYAGE 2) đã đánh giá tính an toàn và hiệu quả của guselkumab so với giả dược và adalimumab trên 1.829 bệnh nhân người lớn. Bệnh nhân ngẫu nhiên được dùng guselkumab (N=825) liều 100 mg vào Tuần 0 và 4, và mỗi 8 tuần sau đó (q8w) cho đến Tuần 48 (VOYAGE 1) và Tuần 20 (VOYAGE 2). Bệnh nhân ngẫu nhiên được dùng adalimumab (N=582) liều 80 mg vào Tuần 0 và liều 40 mg vào Tuần 1, tiếp nối bởi 40 mg mỗi 2 tuần (q2w) cho đến Tuần 48 (VOYAGE 1) và Tuần 23 (VOYAGE 2). Trong hai nghiên cứu, bệnh nhân ngẫu nhiên dùng giả dược (N=422) được dùng guselkumab 100 mg tại Tuần 16, 20 và q8w sau đó. Trong nghiên cứu VOYAGE 1, tất cả bệnh nhân, bao gồm bệnh nhân ngẫu nhiên dùng adalimumab tại Tuần 0, đã bắt đầu dùng guselkumab nhãn mở mỗi 8 tuần tại Tuần 52. Trong nghiên cứu VOYAGE 2, bệnh nhân ngẫu nhiên dùng guselkumab tại Tuần 0 đạt đáp ứng chỉ số về độ nặng và diện tích da bị vảy nến (PASI) 90 tại tuần 28 lại được phân ngẫu nhiên hoặc tiếp tục dùng guselkumab mỗi 8 tuần (điều trị duy trì) hoặc dùng giả dược (rút khỏi điều trị). Bệnh nhân rút khỏi điều trị được tái điều trị với guselkumab (khởi liều tại thời gian tái điều trị, 4 tuần sau đó và tiếp nối mỗi 8 tuần) khi bệnh nhân có biểu hiện mất ít nhất 50% cải thiện PASI đạt được tại Tuần 28. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên dùng adalimumab mà không có đáp ứng PASI 90 được dùng guselkumab tại tuần 28 và 32 và mỗi 8 tuần sau đó. Trong VOYAGE 2, tại Tuần 76, tất cả bệnh nhân được dùng guselkumab nhãn mở với liều q8w.
Đặc tính bệnh lý tại thời điểm ban đầu là như nhau trong nhóm quần thể nghiên cứu VOYAGE 1 và 2 với trung vị diện tích bề mặt cơ thể (BSA) tương ứng là 22% và 24%, điểm PASI trung vị tại thời điểm ban đầu là 19 cho hai nghiên cứu, trung vị chỉ số chất lượng cuộc sống của bệnh da liễu (DLQI) tại thời điểm ban đầu là 14 và 14,5; điểm đánh giá tổng thể của nghiên cứu viên (IGA) về mức độ nặng tại thời điểm ban đầu là 25% và 23% bệnh nhân, và tiền sử viêm khớp vảy nến tương ứng là 19% và 18% bệnh nhân.
Trong tất cả bệnh nhân tham gia VOYAGE 1 và 2, có tương ứng 32% và 29% bệnh nhân chưa từng điều trị thuốc sinh học và thuốc toàn thân kinh điển, 54% và 57% trước đó đã điều trị bằng quang trị liệu, 62% và 64% trước đó đã điều trị thuốc toàn thân kinh điển. Trong cả hai nghiên cứu, 21% đã điều trị thuốc sinh học trước đó, bao gồm 11% dùng ít nhất một thuốc ức chế yếu tố hoại tử u alpha (TNFα), và khoảng 10% dùng một thuốc ức chế IL-12/IL-23.
Hiệu quả của guselkumab được đánh giá liên quan đến biểu hiện bệnh lý trên da nói chung, bệnh lý theo vùng (da đầu, tay, chân và móng) và chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Đồng tiêu chí chính trong VOYAGE 1 và 2 là tỷ lệ bệnh nhân đạt được điểm IGA sạch hoặc tối thiểu (IGA 0/1) và một đáp ứng PASI 90 tại tuần 16 so với giả dược (xem Bảng 1).
Bệnh lý da nói chung
Điều trị với guselkumab làm cải thiện đáng kể trong đánh giá hoạt tính bệnh so với giả dược và adalimumab tại Tuần 16 và so với adalimumab tại Tuần 24 và 48. Kết quả về hiệu quả chính của tiêu chí nghiên cứu chính và tiêu chí thứ cấp chủ yếu được trình bày trong Bảng 1 dưới đây.
- xem Bảng 1
Đáp ứng theo thời gian
Guselkumab đã chứng tỏ khởi phát hiệu quả nhanh, với tỷ lệ phần trăm cao hơn đáng kể về cải thiện PASI so với giả dược tại thời điểm sớm Tuần 2 (p < 0,001). Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân đạt đáp ứng PASI 90 là cao hơn đáng kể ở guselkumab so với adalimumab bắt đầu từ Tuần 8 với sự khác biệt đạt tối đa đạt được khoảng Tuần 20 (VOYAGE 1 và 2) và duy trì đến Tuần 48 (VOYAGE 1) (xem Hình 1).
- xem Hình 1

Trong VOYAGE 1, đối với những bệnh nhân tiếp tục điều trị guselkumab, tỷ lệ đáp ứng PASI 90 được duy trì từ Tuần 52 đến Tuần 156. Đối với bệnh nhân ngẫu nhiên dùng adalimumab tại Tuần 0 được bắt chéo dùng guselkumab tại Tuần 52, tỷ lệ đáp ứng PASI 90 đã tăng từ Tuần 52 đến Tuần 76 và duy trì đến Tuần 156 (xem Hình 2).
- xem Hình 2

Tính an toàn và hiệu quả của guselkumab đã được xác định là không liên quan đến tuổi, giới tính, chủng tộc, cân nặng, vị trí mảng vảy nến, độ nặng PASI tại thời điểm ban đầu, viêm khớp vảy nến đồng thời, và điều trị trước đó với một thuốc sinh học. Guselkumab có hiệu quả ở những bệnh nhân chưa từng được điều trị thuốc toàn thân kinh điển, chưa từng dùng thuốc sinh học và đã dùng thuốc sinh học.
Trong VOYAGE 2, 88,6% bệnh nhân điều trị duy trì bằng guselkumab tại Tuần 48 là những người đạt đáp ứng PASI 90 so với 36,8% bệnh nhân rút khỏi điều trị tại Tuần 28 (p <0,001). Mất đáp ứng PASI 90 đã ghi nhận sớm nhất là 4 tuần sau khi rút khỏi điều trị guselkumab với trung vị thời gian mất đáp ứng PASI 90 khoảng tuần 15. Trong số bệnh nhân rút khỏi điều trị và tái điều trị với guselkumab, 80% đã tái đạt được đáp ứng PASI 90 khi đánh giá ở tuần 20 sau khi rút khỏi điều trị.
Trong VOYAGE 2, trong số 112 bệnh nhân phân nhóm ngẫu nhiên dùng adalimumab không đạt đáp ứng PASI 90 tại Tuần 28, 66% và 76% đã đạt đáp ứng PASI 90 sau 20 tuần và 44 tuần điều trị với guselkumab. Ngoài ra, trong số 95 bệnh nhân ngẫu nhiên dùng guselkumab không đạt đáp ứng PASI 90 tại Tuần 28, 36% và 41% đã đạt đáp ứng PASI 90 trong 20 và 44 tuần sau đó khi điều trị tiếp tục với guselkumab. Không có phát hiện mới về an toàn ở bệnh nhân chuyển từ điều trị adalimumab sang guselkumab.
Bệnh lý theo vùng
Trong VOYAGE 1 và 2, khi so sánh với bệnh nhân dùng giả dược tại Tuần 16 (p <0,001; Bảng 2), những bệnh nhân dùng guselkumab đã thấy cải thiện đáng kể vảy nến trên da đầu, bàn tay và bàn chân, và móng (được xác định bởi Đánh giá tổng thể của Nghiên cứu viên chuyên biệt cho da đầu [ss-IGA], Đánh giá tổng thể của Bác sĩ về tay và / hoặc chân [hf-PGA], Đánh giá tổng thể của Bác sĩ về móng tay [f-PGA] và Chỉ số về độ nặng của vảy nến móng [NAPSI]). Đã xác định guselkumab vượt trội so với adalimumab về vảy nến trên da đầu, tay và chân tại Tuần 24 (VOYAGE 1 và 2) và Tuần 48 (VOYAGE 1) (p < 0,001; ngoại trừ vảy nến bàn tay và bàn chân tại Tuần 24 [VOYAGE 2] và Tuần 48 [VOYAGE 1], p < 0,05).
- xem Bảng 2
Chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe/ kết quả được báo cáo bởi bệnh nhân
Qua VOYAGE 1 và 2, nhóm bệnh nhân dùng guselkumab có sự cải thiện tốt hơn đáng kể về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được đánh giá bởi Chỉ số Chất lượng cuộc sống về da liễu (DLQI) và báo cáo của bệnh nhân về các triệu chứng vảy nến (ngứa, đau, nóng rát, châm chích và căng da) và các dấu hiệu (khô da, nứt da, tróc vảy, lột da hoặc bong da, đỏ da và chảy máu) qua Nhật ký về triệu chứng và dấu hiệu bệnh vảy nến (PSSD) so với dùng giả dược tại Tuần 16 (Bảng 3). Dấu hiệu cải thiện kết quả được báo cáo bởi bệnh nhân đã được duy trì đến Tuần 24 (VOYAGE 1 và 2) và Tuần 48 (VOYAGE 1). Trong VOYAGE 1, đối với bệnh nhân tiếp tục dùng guselkumab, sự cải thiện này được duy trì trong pha nhãn mở đến Tuần 156 (Bảng 4).
- xem Bảng 3 & 4

Trong VOYAGE 2, so với dùng giả dược, những bệnh nhân dùng guselkumab có cải thiện tốt hơn đáng kể so với ban đầu khi đánh giá về chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, lo âu và trầm cảm, và giới hạn công việc tại Tuần 16, được đánh giá bởi Câu hỏi điều tra sức khỏe theo Biểu mẫu rút gọn 36 mục (SF-36), Thang điểm về lo âu và trầm cảm tại bệnh viện (HADS), và Câu hỏi giới hạn công việc (WLQ). Cải thiện trong SF-36, HADS và WLQ đã được duy trì đến Tuần 48 và trong giai đoạn nhãn mở đến Tuần 156 trong số những bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào nhóm điều trị duy trì tại Tuần 28.
* NAVIGATE
Nghiên cứu NAVIGATE đánh giá hiệu quả của guselkumab ở những bệnh nhân có đáp ứng không đầy đủ (bệnh nhân không đạt được đáp ứng “sạch” hoặc “tối thiểu” xác định bởi IGA ≥ 2) với ustekinumab tại Tuần 16. Tất cả bệnh nhân (N=871) được nhận ustekinumab nhãn mở (45 mg ≤ 100 kg và 90 mg > 100 kg) tại Tuần 0 và 4. Tại tuần 16, 268 bệnh nhân với điểm IGA ≥ 2 được phân ngẫu nhiên hoặc dùng tiếp ustekinumab (N=133) mỗi 12 tuần, hoặc bắt đầu dùng guselkumab (N=135) tại Tuần 16, 20 và mỗi 8 tuần sau đó. Các đặc điểm ban đầu của bệnh nhân được phân ngẫu nhiên là tương tự như các ghi nhận trong VOYAGE 1 và 2.
Sau khi phân ngẫu nhiên, tiêu chí chính là số lần thăm khám giữa Tuần 12 và 24 mà bệnh nhân đạt được điểm IGA 0/1 và đạt độ cải thiện ≥ 2. Bệnh nhân được thăm khám mỗi 4 tuần với tổng số lần thăm khám là 4. Trong số những bệnh nhân đáp ứng không đầy đủ với ustekinumab tại thời điểm phân ngẫu nhiên, những bệnh nhân chuyển sang dùng guselkumab ghi nhận cải thiện về hiệu quả tốt hơn đáng kể so với những bệnh nhân tiếp tục dùng ustekinumab. Giữa tuần 12 và 24 sau phân ngẫu nhiên, bệnh nhân dùng guselkumab đạt được điểm IGA 0/1 với độ cải thiện ≥ 2 là gấp đôi so với bệnh nhân dùng ustekinumab (trung bình 1,5 so với 0,7 thăm khám, p < 0,001). Hơn nữa, tại tuần 12 sau phân ngẫu nhiên, so với ustekinumab, tỷ lệ bệnh nhân dùng guselkumab đạt được điểm IGA 0/1 và độ cải thiện ≥ 2 (tương ứng 31,1% so với 14,3%; p = 0,001) và đáp ứng PASI 90 (tương ứng 48% so với 23%, p < 0,001) cao hơn. Sự khác biệt về tỷ lệ đáp ứng giữa bệnh nhân điều trị guselkumab và ustekinumab được ghi nhận sớm tại tuần 4 sau phân ngẫu nhiên (tương ứng 11,1% và 9%) và đạt tối đa tại 24 tuần sau phân ngẫu nhiên (xem Hình 3). Không có phát hiện mới về an toàn ở bệnh nhân chuyển từ ustekinumab sang guselkumab.
- xem Hình 3

* ECLIPSE
Hiệu quả và an toàn của guselkumab được đánh giá trong một nghiên cứu mù đôi so sánh với secukinumab. Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên dùng guselkumab (N=534; 100 mg tại Tuần 0, 4 và mỗi 8 tuần sau đó), hoặc secukinumab (N=514; 300 mg tại Tuần 0, 1, 2, 3, 4, và mỗi 4 tuần sau đó). Liều cuối cùng vào tuần 44 cho cả hai nhóm.
Đặc điểm bệnh học tại thời điểm ban đầu là như nhau với một nhóm dân số bị vảy nến thể mảng trung bình đến nặng có trung vị BSA là 20%, trung vị điểm PASI là 18, và điểm IGA nặng ở 24% bệnh nhân.
Guselkumab đã vượt trội secukinumab khi được đánh giá bởi tiêu chí chính là đáp ứng PASI 90 tại Tuần 48 (84,5% so với 70,0%, p < 0,001). So sánh tỷ lệ đáp ứng PASI được trình bày tại Bảng 5.
- xem Bảng 5

Tỷ lệ đáp ứng PASI 90 đối với guselkumab và secukinumab PASI 90 đến Tuần 48 được trình bày trong Hình 4
- xem Hình 4
Viêm khớp vảy nến (PsA)
Guselkumab đã cho thấy cải thiện dấu hiệu và triệu chứng, chức năng thực thể và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe, và giảm tỷ lệ tiến triển tổn thương khớp ngoại vi ở bệnh nhân người lớn mắc viêm khớp vảy nến thể hoạt động.
* DISCOVER 1 và DISCOVER 2
Hai nghiên cứu pha III ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng với giả dược (DISCOVER 1 và DISCOVER 2) đánh giá hiệu quả và an toàn của guselkumab so với giả dược ở bệnh nhân người lớn bị viêm khớp vảy nến thể hoạt động (≥ 3 khớp sưng và ≥ 3 khớp đau, và nồng độ protein phản ứng C (CRP) ≥ 0,3 mg/dL trong nghiên cứu DISCOVER 1, và ≥ 5 khớp sưng và ≥ 5 khớp đau, và nồng độ CRP ≥ 0,6 mg/dL trong nghiên cứu DISCOVER 2), mặc dù đã dùng các thuốc DMARD tổng hợp thường quy, apremilast, hoặc các trị liệu bằng thuốc chống viêm không steroid (NSAID). Những bệnh nhân trong các nghiên cứu này đã được chẩn đoán viêm khớp vảy nến dựa trên Tiêu chuẩn Phân loại viêm khớp vảy nến [CASPAR]) với trung vị điều trị là 4 năm. Những bệnh nhân với các thể bệnh viêm khớp vảy nến khác nhau được thu nhận vào cả hai nghiên cứu, bao gồm viêm đa khớp mà không có nốt thấp (40%), viêm cột sống kèm viêm khớp ngoại vi (30%), viêm khớp ngoại vi không đối xứng (23%), viêm khớp liên đốt xa (7%) và viêm khớp biến dạng nặng (arthritis multilans) (1%). Trên 65% và 42% bệnh nhân mắc viêm điểm bám gân và viêm ngón tại thời điểm ban đầu, và trên 75% bệnh nhân có ≥ 3% BSA liên quan đến vảy nến trên da. DISCOVER 1 và DISCOVER 2 đánh giá 381 và 739 bệnh nhân tương ứng, những bệnh nhân này được điều trị guselkumab 100 mg Tuần 0 và 4, sau đó dùng mỗi 8 tuần hoặc guselkumab 100 mg mỗi 4 tuần hoặc giả dược. Tại Tuần 24, bệnh nhân dùng giả dược trong cả hai nghiên cứu được chuyển sang dùng guselkumab 100 mg mỗi 4 tuần. Khoảng 58% bệnh nhân trong cả hai nghiên cứu tiếp tục dùng liều MTX ổn định (≤ 25 mg/tuần).
Trong cả hai nghiên cứu trên 90% bệnh nhân đã dùng DMARD tổng hợp thường quy trước đó. Trong nghiên cứu DISCOVER 1, 31% bệnh nhân đã điều trị bằng thuốc kháng TNFα trước đó. Trong nghiên cứu DISCOVER 2, tất cả bệnh nhân đều chưa dùng trị liệu sinh học trước đó.
* Dấu hiệu và triệu chứng
Điều trị bằng guselkumab nhận được kết quả cải thiện đáng kể so với giả dược khi đo lường hoạt tính bệnh tại Tuần 24. Tiêu chí chính trong cả hai nghiên cứu là tỷ lệ bệnh nhân đạt đáp ứng theo thang điểm Hội thấp khớp Hoa Kỳ ACR 20 tại Tuần 24. Kết quả về hiệu quả chính được thể hiện trong Bảng 6.
- xem Bảng 6

Đáp ứng lâm sàng được duy trì đến Tuần 52 khi đánh giá bằng tỷ lệ đáp ứng ACR 20/50/70, DAS 28 (CRP), MDA, IGA và PASI 90 (xem Bảng 7).
- xem Bảng 7

Đáp ứng theo thời gianTrong nghiên cứu DISCOVER 2, ngay Tuần 4 đã sớm quan sát thấy đáp ứng ACR 20 cao hơn ở cả hai nhóm guselkumab so với giả dược và sự khác biệt trong trị liệu tiếp tục tăng theo thời gian đến Tuần 24 (Hình 5).
- xem Hình 5
Trong nghiên cứu DISCOVER 2, những bệnh nhân điều trị bằng guselkumab liên tục có đáp ứng ACR 20 duy trì từ Tuần 24 đến Tuần 52 (xem Hình 6).
- xem Hình 6

Đáp ứng quan sát thấy trong các nhóm guselkumab là tương tự nhau dù có dùng đồng thời với DMARD tổng hợp thường quy hay không, bao gồm MTX (DISCOVER 1 và 2). Thêm vào đó, kiểm tra tuổi, giới tính, chủng tộc, cân nặng và sử dụng DMARD tổng hợp thường quy trước đó (DISCOVER 1 và 2) và dùng thuốc kháng TNFα trước đó (DISCOVER 1), không có sự khác biệt trong đáp ứng với guselkumab giữa các phân nhóm này.
Trong nghiên cứu DISCOVER 1 và 2, đã thấy cải thiện trong tất cả các thành phần của các điểm ACR bao gồm đánh giá đau trên bệnh nhân. Tại Tuần 24 trong cả hai nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân đạt đáp ứng theo tiêu chí đáp ứng viêm khớp vảy nến sửa đổi (PsARC) lớn hơn ở các nhóm guselkumab so với giả dược. Đáp ứng PsARC được duy trì từ Tuần 24 đến Tuần 52.
Viêm ngón và viêm điểm bám gân được đánh giá dựa trên dữ liệu tổng hợp từ nghiên cứu DISCOVER 1 và 2. Tại Tuần 24, trong số những bệnh nhân viêm ngón tại thời điểm ban đầu, tỷ lệ giảm bệnh viêm ngón ở nhóm guselkumab liều mỗi 8 tuần (59,4%, p danh nghĩa < 0,001) và nhóm liều mỗi 4 tuần (63,5%, p=0,006) cao hơn so với giả dược (42,2%). Tại Tuần 24, trong số những bệnh nhân viêm điểm bám gân tại thời điểm ban đầu, tỷ lệ giảm viêm điểm bám gân ở nhóm guselkumab liều mỗi 8 tuần (49,6%, p danh nghĩa < 0,001) và liều mỗi 4 tuần (44,9%, p=0,006) cao hơn so với giả dược (29,4%). Tại Tuần 52, duy trì được tỷ lệ bệnh nhân giảm viêm ngón (81,2% trong nhóm liều mỗi 8 tuần và 80,4% trong nhóm liều mỗi 4 tuần) và giảm viêm điểm bám gân (62,7% trong nhóm liều mỗi 8 tuần và 60,9% trong nhóm liều mỗi 4 tuần).
Trong nghiên cứu DISCOVER 1 và 2, bệnh nhân ban đầu mắc bệnh viêm cột sống kèm viêm khớp ngoại vi được điều trị bằng guselkumab cho kết quả cải thiện chỉ số hoạt động bệnh viêm cột sống dính khớp (BASDAI) cao hơn so với giả dược tại Tuần 24. Cải thiện BASDAI được duy trì từ Tuần 24 đến Tuần 52.
Đáp ứng trên X quang
Trong nghiên cứu DISCOVER 2, ức chế tiến triển tổn thương cấu trúc được đo trên hình ảnh X quang và thể hiện bằng thay đổi trung bình tổng điểm số van der Heijde-Sharp sửa đổi (vdH-S) so với thời điểm ban đầu. Tại Tuần 24, nhóm điều trị guselkumab mỗi 4 tuần cho thấy tiến triển trên hình ảnh X quang ít hơn đáng kể có ý nghĩa thống kê và nhóm điều trị guselkumab mỗi 8 tuần cho thấy tiến triển ít hơn về mặt số lượng so với giả dược (Bảng 8). Lợi ích quan sát được của chế độ liều guselkumab mỗi 4 tuần về ức chế tiến triển trên hình ảnh X quang (tức là, thay đổi trung bình điểm số so với thời điểm ban đầu về tổng điểm vdH-S sửa đổi trong nhóm dùng liều mỗi 4 tuần ít hơn so với giả dược) được công bố nhiều nhất ở những bệnh nhân tại thời điểm ban đầu có giá trị protein phản ứng C cao và số lượng khớp mòn nhiều.
- xem Bảng 8

Tại Tuần 52, thay đổi trung bình tổng điểm vdH-S sửa đổi so với thời điểm ban đầu là tương tự ở nhóm guselkumab mỗi 8 tuần và nhóm mỗi 4 tuần (Bảng 9).
- xem Bảng 9
Chức năng thực thể và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe
Trong nghiên cứu DISCOVER 1 và 2, những bệnh nhân điều trị bằng guselkumab cho thấy cải thiện đáng kể (p<0,001) về chức năng thực thể so với giả dược khi đánh giá bằng Bộ câu hỏi đánh giá sức khỏe-chỉ số khuyết tật (HAQ-DI) tại Tuần 24. Cải thiện HAQ-DI được duy trì từ Tuần 24 đến Tuần 52.
Những bệnh nhân điều trị bằng guselkumab đã có cải thiện về điểm số Tóm tắt thành phần thực thể (PCS) SF-36 so với thời điểm ban đầu lớn hơn đáng kể so với giả dược tại Tuần 24 trong nghiên cứu DISCOVER 1 (p < 0,001 cho cả hai nhóm liều) và DISCOVER 2 (p = 0,006 trong nhóm dùng liều mỗi 4 tuần). Tại tuần 24, đã quan sát thấy điểm Đánh giá chức năng của các liệu pháp điều trị bệnh mạn tính-mệt mỏi (FACIT-F) ở nhóm điều trị bằng guselkumab tăng so với thời điểm ban đầu cao hơn so với giả dược ở cả hai nghiên cứu. Trong nghiên cứu DISCOVER 2, đã quan sát thấy cải thiện chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe đánh giá bằng Chỉ số chất lượng cuộc sống của bệnh da liễu (DLQI) ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng guselkumab cao hơn giả dược tại Tuần 24. Cải thiện điểm SF-36 PCS, FACIT-F và DLQI được duy trì từ Tuần 24 đến Tuần 52.
Dân số bệnh nhân nhi
Cơ quan quản lý thuốc Châu âu đã trì hoãn yêu cầu nộp kết quả nghiên cứu TREMFYA trên bệnh nhân vảy nến thể mảng và viêm khớp vảy nến ở một hoặc nhiều phân nhóm dân số trẻ em (xem mục 4.2 để có thông tin về sử dụng trên bệnh nhân nhi).
Đặc tính dược động học
Hấp thu
Sau liều duy nhất tiêm dưới da 100 mg ở đối tượng khỏe mạnh, guselkumab đạt nồng độ tối đa trong huyết thanh (C
max) trung bình (± SD) 8,09 ± 3,68 mcg/mL vào khoảng ngày 5,5 sau tiêm.
Nồng độ guselkumab huyết thanh đạt được trạng thái ổn định ở Tuần 20 sau tiêm dưới da guselkumab 100 mg tại Tuần 0 và 4, và mỗi 8 tuần sau đó. Nồng độ đáy ở trạng thái ổn định của guselkumab trong huyết thanh trung bình (± SD) trong hai nghiên cứu Pha III cho bệnh nhân vảy nến thể mảng là 1,15 ± 0,73 mcg/mL và 1,23 ± 0,84 mcg/mL.
Dược động học của guselkumab ở những bệnh nhân viêm khớp vảy nến là tương tự với những bệnh nhân vảy nến. Sau khi tiêm dưới da TREMFYA 100 mg tại Tuần 0, 4 và mỗi 8 tuần sau đó, nồng độ đáy guselkumab trong huyết thanh ở trạng thái ổn định cũng xấp xỉ 1,2 mcg/mL. Sau khi tiêm dưới da TREMFYA 100 mg mỗi 4 tuần, nồng độ đáy guselkumab trong huyết thanh ở trạng thái ổn định là xấp xỉ 3,8 mcg/mL.
Sinh khả dụng tuyệt đối của guselkumab sau tiêm dưới da liều duy nhất guselkumab 100 mg vào khoảng 49% ở người khỏe mạnh.
Phân phối
Thể tích phân phối trung bình pha cuối (Vz) sau liều duy nhất đường tĩnh mạch ở người khỏe mạnh vào khoảng 7 đến 10 L trong toàn bộ các nghiên cứu.
Chuyển dạng sinh học
Chưa mô tả được con đường chuyển hóa chính xác của guselkumab. Cũng như IgGmAb người, guselkumab được cho là bị phân hóa thành các peptide nhỏ và amino acid thông qua con đường dị hóa giống như IgG nội sinh.
Thải trừ
Thanh thải toàn thân trung bình (CL) sau liều duy nhất đường tĩnh mạch ở người khỏe mạnh trong khoảng 0,288 đến 0,479 L/ngày trong các nghiên cứu. Thời gian bán thải trung bình (T
1/2) của guselkumab khoảng 17 ngày ở người khỏe mạnh và khoảng 15 đến 18 ngày ở người bị vảy nến thể mảng trong các nghiên cứu.
Phân tích dược động học quần thể cho thấy dùng đồng thời với các NSAID, các corticosteroid đường uống và các DMARD tổng hợp thường quy như methotrexate không ảnh hưởng tới độ thanh thải của guselkumab.
Tuyến tính / không tuyến tính
Nồng độ toàn thân của guselkumab (C
max và AUC) đã tăng trong khoảng tuyến tính với liều sau khi tiêm dưới da liều duy nhất từ 10 mg đến 300 mg ở người khỏe mạnh hoặc ở bệnh nhân vảy nến thể mảng.
Người cao tuổi
Chưa có nghiên cứu đặc hiệu ở bệnh nhân cao tuổi. Trong số 1.384 bệnh nhân bị vảy nến thể mảng sử dụng guselkumab trong các thử nghiệm lâm sàng pha III và trong các phân tích dược động học quần thể, có 70 bệnh nhân ≥ 65 tuổi, bao gồm 4 bệnh nhân ≥ 75 tuổi. Trong số 746 bệnh nhân viêm khớp vảy nến đã dùng guselkumab trong các thử nghiệm lâm sàng pha III, có tổng số 38 bệnh nhân tuổi từ 65 trở lên và không có bệnh nhân nào từ 75 tuổi trở lên.
Phân tích dược động học quần thể trên bệnh nhân vảy nến thể mảng và viêm khớp vảy nến cho thấy không có sự thay đổi rõ ràng trong CL/F ước tính ở bệnh nhân ≥ 65 tuổi so với bệnh nhân < 65 tuổi, điều này gợi ý không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân cao tuổi.
Bệnh nhân suy thận hoặc suy gan
Chưa có nghiên cứu đặc hiệu để xác định ảnh hưởng của suy thận hoặc suy gan đến dược động học của guselkumab. Sự thải trừ qua thận của guselkumab nguyên vẹn là một IgG mAb, được cho là thấp và ít quan trọng; tương tự, suy gan không được cho là ảnh hưởng đến thanh thải guselkumab do các IgG mAb được đào thải chủ yếu qua chuyển hóa bên trong tế bào.
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Dữ liệu tiền lâm sàng cho thấy không có nguy hại đặc hiệu cho người dựa trên các nghiên cứu quy ước về dược lý an toàn, độc tính liều lặp lại, độc tính đến khả năng sinh sản và sự phát triển trước và sau khi sinh.
Các nghiên cứu về độc tính liều lặp lại ở khỉ cynomolgus, guselkumab được dung nạp tốt qua đường tiêm dưới da và tĩnh mạch. Liều tiêm dưới da mỗi tuần 50 mg/kg cho khỉ đã tạo ra các giá trị nồng độ (AUC) và C
max tăng cao tương ứng ít nhất 49 lần và > 200 lần so với nồng độ trong các nghiên cứu dược động học ở người. Hơn nữa, không ghi nhận tác dụng dược lý an toàn trên tim mạch hoặc nhiễm độc miễn dịch bất lợi trong khi tiến hành các nghiên cứu độc tính liều lặp lại hoặc trong một nghiên cứu dược lý an toàn trên tim mạch ở khỉ cynomolgus.
Không quan sát thấy những kiểu thay đổi như ở giai đoạn trước khi phát triển khối u trong các đánh giá mô bệnh học của động vật đã dùng đến 24 tuần, hoặc sau giai đoạn hồi phục 12 tuần mà thuốc có thể được phát hiện trong huyết thanh.
Chưa tiến hành nghiên cứu về khả năng đột biến hoặc gây ung thư với guselkumab.
Không xác định được guselkumab trong sữa của khỉ cynomolgus khi định lượng tại ngày 28 sau sinh.