Sau khi uống 1 liều duy nhất viên nén 8mg galantamin, sự hấp thu xảy ra nhanh chóng với nồng độ đỉnh trong huyết tương là 43±13 ng/mL, đạt được sau 1,2 giờ và AUC∞ trung bình là 427±102 ng.giờ/mL. Sinh khả dụng tuyệt đối đường uống của galantamin là 88,5%. Uống galantamin viên nén chung với thức ăn sẽ làm giảm tốc độ hấp thu (Cmax giảm khoảng 25%), nhưng không ảnh hưởng đến mức độ galantamin được hấp thu (AUC).
Sau khi uống liều lặp lại viên nén 12mg galantamin 2 lần/ngày, nồng độ đỉnh và đáy trung bình trong huyết tương dao động giữa 30 và 90 ng/mL. Dược động học của galantamin tuyến tính trong khoảng liều từ 4-16 mg x 2 lần/ngày.
So sánh sinh khả dụng của dạng giải phóng tức thì với dạng giải phóng kéo dài
Trong một nghiên cứu về sinh khả dụng ở trạng thái hằng định, khi dùng viên nang REMINYL giải phóng kéo dài, 24 mg 1 lần/ngày, cho thấy tương đương sinh học với viên nén giải phóng tức thì 12 mg x 2 lần/ngày về chỉ số AUC24giờ và Cmin. Giá trị Cmax của viên nang giải phóng kéo dài 24 mg x 1 lần/ngày đạt được sau 4,4 giờ, thấp hơn khoảng 24% so với viên nén giải phóng tức thì 12 mg x 2 lần/ngày. Thức ăn không ảnh hưởng đến sinh khả dụng ở trạng thái hằng định của viên nang giải phóng kéo dài 24mg. Trong một nghiên cứu tương xứng liều dùng của viên nang REMINYL giải phóng kéo dài trên người cao tuổi và người trẻ trưởng thành khỏe mạnh cho thấy nồng độ trong huyết tương ở trạng thái hằng định đạt được trong vòng 6 ngày ở tất cả các mức liều (8 mg, 16 mg, và 24 mg) trên cả 2 nhóm. Dược động học ở trạng thái hằng định là tương xứng với liều trong nghiên cứu ở khoảng liều từ 8 mg đến 24 mg trên cả 2 nhóm.
- xem Hình 3

Phân bố
Galantamin có thể tích phân bố trung bình (Vdss trung bình 175L).
Galantamin gắn kết thấp với protein huyết tương: 17,7±0,8%. Trong máu toàn phần, galantamin phân bố chủ yếu ở hồng cầu (52,7%), và dịch huyết tương (39,0%), trong khi phần gắn kết với protein huyết tương chỉ là 8,4%. Tỷ lệ nồng độ trong máu toàn phần so với huyết tương của galantamin là 1,17.
Chuyển hóa
Các con đường chuyển hóa chính là N-oxy hóa, N-demethyl hóa, O-demethyl hóa, glucuronid hóa và epime hóa. O-demethyl quan trọng hơn nhiều ở những người chuyển hóa mạnh của CYP2D6. Mức độ bài tiết của tổng hoạt tính đánh dấu phóng xạ trong nước tiểu và phân không khác biệt giữa những người chuyển hóa mạnh và những người chuyển hóa kém. Các nghiên cứu in vitro đã xác định rằng cytochrom P450 2D6 và 3A4 là những isoenzym cytochrom P450 chính tham gia vào sự chuyển hóa galantamin.
Trong huyết tương của những người chuyển hóa mạnh và kém, dạng galantamin không biến đổi và dạng glucuronid của nó đại diện cho phần lớn hoạt tính phóng xạ của mẫu. Trong huyết tương của những người chuyển hóa mạnh, glucuronid của O-desmethyl-galantamin cũng quan trọng.
Không có chất chuyển hóa có hoạt tính nào của galantamin (norgalantamin, O-desmethyl-galantamin và O-desmethyl-norgalantamin) được phát hiện dưới dạng không kết hợp trong huyết tương của những người chuyển hóa mạnh hoặc chuyển hóa kém sau 1 liều duy nhất. Norgalantamin có thể được phát hiện trong huyết tương ở những bệnh nhân sau khi dùng đa liều, nhưng không vượt quá 10% nồng độ galantamin.
Thải trừ
Galantamin là thuốc có độ thanh thải thấp (độ thanh thải trong huyết tương xấp xỉ 300mL/phút). Thải trừ của galantamin theo cấp số nhân, thời gian bán thải sau cùng là 7-8 giờ.
7 ngày sau khi uống 1 liều duy nhất 4 mg 3H-galantamin, 90-97% hoạt tính đánh dấu phóng xạ được tìm thấy trong nước tiểu và 2,2-6,3% trong phân. Sau khi tiêm tĩnh mạch và dùng đường uống, 18-22% liều dùng được bài tiết dưới dạng galantamin không biến đổi trong nước tiểu trong 24 giờ, với độ thanh thải qua thận khoảng 65mL/phút, tương đương với 20-25% tổng lượng thanh thải huyết tương.
Đối tượng đặc biệt
Bệnh nhân suy thận
Sự phân bố của galantamin được nghiên cứu trên những người trẻ có chức năng thận khác nhau. Thải trừ của galantamin giảm cùng với sự giảm thanh thải creatinin. Nồng độ galantamin trong huyết tương gia tăng 38% ở những người suy chức năng thận trung bình (độ thanh thải creatinin = 52-104mL/phút) hoặc tăng 67% ở những người suy thận nặng (độ thanh thải creatinin = 9-51mL/phút) so với những người khoẻ mạnh cùng độ tuổi và cân nặng (độ thanh thải creatinin ≥121mL/phút). Phân tích và mô phỏng dược động học trên dân số cho thấy rằng không cần điều chỉnh liều ở những bệnh nhân Alzheimer có suy thận miễn là độ thanh thải creatinin tối thiểu là 9mL/phút (xem Liều lượng và Cách dùng – Đối tượng đặc biệt) bởi vì thanh thải của galantamin thấp hơn ở những bệnh nhân Alzheimer.
Bệnh nhân suy gan
Dược động học của galantamin trên những đối tượng suy chức năng gan nhẹ (điểm Child-Pugh từ 5-6) tương tự với trên người khỏe mạnh. Trên bệnh nhân suy chức năng gan trung bình (điểm Child-Pugh từ 7-9), AUC và thời gian bán thải của galantamin tăng khoảng 30% (xem Liều lượng và Cách dùng – Đối tượng đặc biệt).
Đặc điểm trên bệnh nhân Alzheimer
Dữ liệu từ các thử nghiệm lâm sàng chỉ ra rằng nồng độ trong huyết tương của galantamin trên bệnh nhân Alzheimer cao hơn 30-40% so với trên người trẻ, khỏe mạnh.
Đăng xuất