Advate

Advate

octocog alfa

Nhà sản xuất:

Baxalta

Nhà tiếp thị:

Takeda
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Thành phần
Mỗi lọ: Octocog alfa (yếu tố đông máu VIII người tái tổ hợp (rDNA)) 250 IU, 500 IU, 1000 IU hoặc 1500 IU.
Hoạt lực (bằng đơn vị quốc tế International Unit, viết tắt là IU) được xác định theo phương pháp định lượng chất nhiễm sắc theo Dược Điển Châu Âu. Hoạt độ cụ thể của ADVATE là khoảng 4.000-10.000 IU/mg protein.
Octocog alfa (Yếu tố đông máu VIII người tái tổ hợp (rDNA)) là một protein tinh chế có 2332 axit amin. Chất này được sản xuất bởi công nghệ DNA tái tổ hợp trong tế bào buồng trứng của chuột hamster Trung Quốc (CHO). Được chế tạo mà không cần thêm bất cứ protein (ngoại sinh) chiết xuất từ người hoặc động vật nào trong quá trình nuôi cấy tế bào, tinh lọc hoặc chọn lọc công thức cuối.
Thành phần tá dược:
Thuốc bột: Mannitol, natri clorid, histidin, trehalose, calci clorid, trometamol, polysorbate 80, glutathione (dạng dễ hấp thu).
Dung môi: Nước cất pha tiêm.
Tá dược với tác dụng đã biết: 0,45 mmol natri (10 mg) trong mỗi lọ.
Mô tả
Bột: loại bột tơi mịn màu trắng đến trắng ngà.
Dung môi: Dung dịch trong và không màu.
Dược lý
Các đặc tính dược lực học
Nhóm dược học điều trị: chống chảy máu, yếu tố đông máu VIII. Mã ATC: B02BD02.
Hợp chất yếu tố VIII/Yếu tố von Willebrand gồm hai phân tử (yếu tố VIII và Yếu tố von Willebrand) với các chức năng sinh lý học khác nhau. ADVATE chứa yếu tố đông máu VIII tái tổ hợp (octocog alfa), một glycoprotein tương đương sinh học với glycoprotein của yếu tố VIII có trong huyết tương của người.
Octocog alfa là một glycoprotein gồm 2332 axit amin có khối lượng phân tử khoảng 280 kD. Khi truyền vào bệnh nhân bị bệnh Hemophilia, octocog alfa liên kết với Yếu tố von Willebrand nội sinh trong tuần hoàn của bệnh nhân. Yếu tố VIII hoạt hóa đóng vai trò như một Yếu tố phối hợp cho Yếu tố IX hoạt hóa, làm tăng tốc quá trình chuyển Yếu tố X sang Yếu tố X hoạt hóa. Yếu tố X hoạt hóa chuyển prothrombin thành thrombin. Thrombin sau đó chuyển fibrinogen thành fibrin và một cục máu đông có thể hình thành. Bệnh Hemophilia nhóm A là một rối loạn đông máu di truyền theo giới tính do sự sụt giảm các mức hoạt độ của yếu tố VIII và dẫn đến sự xuất huyết nhiều vào các khớp, cơ và cơ quan nội tạng, cả tự phát hoặc là vì tổn thương do tai nạn hoặc phẫu thuật. Các mức huyết tương của yếu tố VIII tăng lên nhờ liệu pháp thay thế, từ đó giúp khắc phục tạm thời tình trạng thiếu hụt yếu tố VIII và khắc phục xu hướng xuất huyết.
Hình thành Chất ức chế
Sự miễn dịch với ADVATE đã được đánh giá ở những bệnh nhân từng được điều trị. Trong các nghiên cứu lâm sàng về ADVATE trên 233 bệnh nhân là trẻ em và người lớn [bệnh nhi (0 - 16 tuổi) và bệnh nhân người lớn (16 tuổi trở lên)] đã được chẩn đoán bị bệnh Hemophilia nhóm A dạng nặng (yếu tố VIII < 1%), từng được tiếp xúc với các dạng nồng độ yếu tố VIII từ 150 ngày trở lên cho người lớn và trẻ lớn và từ 50 ngày trở lên cho trẻ em dưới 6 tuổi, một bệnh nhân đã hình thành chất ức chế nồng độ thấp (2,4 BU trong phương pháp định lượng Bethesda đã điều chỉnh) sau 26 ngày tiếp xúc với ADVATE. Các xét nghiệm chất ức chế theo dõi ở bệnh nhân này sau khi rút khỏi nghiên cứu cho kết quả âm tính. Trong tất cả các nghiên cứu, chỉ số tiếp xúc trung vị với ADVATE là 97 ngày tiếp xúc cho mỗi đối tượng nghiên cứu (khoảng 1 đến 709) cho bệnh nhân từng điều trị. Tỷ lệ phát sinh tổng thể đối với sự hình thành (thấp hoặc cao) chất ức chế yếu tố VIII là 0,4% (1 trong 233).
Trong nghiên cứu 060103 không đối chiếu đã hoàn tất, 16 bệnh nhân trong số 45 (35,6%) từng điều trị bệnh Hemophilia nhóm A dạng nặng (FVIII < 1%) và ít nhất 25 ngày tiếp xúc (ED) đối với FVIII đã hình thành chất ức chế FVIII: 7 (15,6%) đối tượng nghiên cứu đã hình thành chất ức chế nồng độ cao và 9 (20%) đối tượng nghiên cứu đã hình thành chất ức chế nồng độ thấp, 1 trong số đó đã được phân loại chất ức chế thoáng qua.
Yếu tố nguy cơ liên quan đến sự hình thành chất ức chế trong nghiên cứu này bao gồm chủng tộc không có nguồn gốc Tây Âu, tiền sử gia đình có chất ức chế và điều trị tăng cường bằng liều cao trong 20 ngày tiếp xúc đầu tiên (ED). Không có sự hình thành chất ức chế trong số 20 đối tượng không có những yếu tố nguy cơ này.
Dữ liệu đã thu thập về Cảm ứng Dung nạp Miễn dịch (ITI) ở bệnh nhân có chất ức chế. Trong một nghiên cứu phụ của nghiên cứu trên bệnh nhi chưa từng điều trị 060103, điều trị ITI trên 11 bệnh nhi chưa từng điều trị đã được chi chép lại. Đánh giá hồ sơ hồi cứu đã được thực hiện cho 30 đối tượng về ITI (nghiên cứu 060703) và việc thu thập dữ liệu Đăng ký đang được tiếp diễn.
Trong nghiên cứu 060201 hai chế độ điều trị dự phòng đã được so sánh trên 53 bệnh nhân từng điều trị: một phác đồ định liều theo dược động học cá nhân hóa (trong khoảng 20 đến 80 IU yếu tố VIII cho mỗi kg trọng lượng cơ thể được dùng cách nhau 72 ± 6 tiếng, n=23) với một phác đồ định liều dự phòng tiêu chuẩn (20 đến 40 IU/kg dùng mỗi 48 ±6 tiếng, n=30). Phác đồ định liều theo dược động học (theo một công thức đặc hiệu) đã nhắm đến các mức yếu tố VIII đáy ≥ 1% ở tần suất dùng thuốc cách nhau 72 tiếng. Dữ liệu từ nghiên cứu này thể hiện hai phác đồ định liều dự phòng tương đương nhau xét về hiệu quả giảm tỷ lệ xuất huyết.
Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu đã miễn trừ nghĩa vụ đệ trình các kết quả nghiên cứu với ADVATE trong tất cả các nhóm bệnh nhi bị bệnh Hemophilia nhóm A (thiếu yếu tố VIII bẩm sinh) về "Cảm ứng Dung nạp Miễn dịch (ITI) ở bệnh nhân bị bệnh Hemophilia nhóm A (thiếu yếu tố VIII bẩm sinh) đã hình thành chất ức chế yếu tố VIII" và "điều trị và dự phòng xuất huyết ở bệnh nhân bị bệnh Hemophilia nhóm A (thiếu yếu tố VIII bẩm sinh)". (xem mục Liều lượng và cách dùng để biết thêm thông tin về việc sử dụng cho bệnh nhi).
Các đặc tính dược động học
Tất cả các nghiên cứu dược động học với ADVATE đã được tiến hành trên bệnh nhân từng được điều trị bệnh Hemophilia nhóm A dạng vừa đến nặng (mốc cơ sở yếu tố VIII ≤ 2%). Đã tiến hành phân tích các mẫu huyết tương trong phòng thí nghiệm trung tâm bằng phương pháp thử máu đông một giai đoạn.
Tổng cộng 195 đối tượng bị bệnh Hemophilia nhóm A dạng nặng (mốc cơ sở yếu tố VIII < 1%) đã cung cấp các thông số PK đã được thêm vào tập hợp phân tích PK theo Đề cương nghiên cứu. Các nhóm phân tích này cho trẻ sơ sinh (1 tháng tuổi đến <2 tuổi), trẻ nhỏ (2 đến < 5 tuổi), trẻ lớn (5 đến <12 tuổi), thanh thiếu niên (12 đến < 18 tuổi) và người lớn (18 tuổi trở lên) đã được dùng để tóm tắt các thông số PK, trong đó tuổi được định nghĩa là tuổi tại thời điểm truyền PK.
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Tính an toàn và hiệu quả cầm máu của ADVATE ở bệnh nhi tương đương với tính an toàn và hiệu quả ở bệnh nhân người lớn. Hệ số phục hồi điều chỉnh và thời gian bán thải cuối (t½) thấp hơn khoảng 20% ở trẻ nhỏ (dưới 6 tuổi) so với người lớn, điều này có thể một phần là do thể tích huyết tương cho mỗi kg trọng lượng cơ thể cao hơn ở bệnh nhân trẻ em.
Hiện nay không có dữ liệu dược động học của ADVATE trên bệnh nhân chưa từng được điều trị.
Tỷ lệ xuất huyết hàng năm theo độ tuổi trong điều trị theo nhu cầu và trong phác đồ điều trị phòng ngừa tiêu chuẩn hoặc theo PK được trình bày trong bảng 9.
Dữ liệu an toàn tiền lâm sàng
Dữ liệu tiền lâm sàng cho biết không có tác hại đặc biệt nào đối với con người dựa trên các nghiên cứu dược lý an toàn, độc tính cấp, độc tính liều lặp lại, độc tính tại chỗ và độc tính trên gen.
Nghiên cứu độ dung nạp tại chỗ trên thỏ đã cho thấy ADVATE được hoàn nguyên với 2 mL nước cất pha tiêm được dung nạp tốt sau khi dùng qua đường tĩnh mạch. Đã quan sát thấy hiện tượng ửng đỏ nhẹ thoáng qua ở vị trí dùng thuốc sau khi dùng nội động mạch và sau khi dùng cận tĩnh mạch. Tuy nhiên, không quan sát thấy có thay đổi mô bệnh học bất lợi tương quan nào cho thấy tính chất thoáng qua của phát hiện này.
Chỉ định/Công dụng
Để điều trị và phòng ngừa xuất huyết ở bệnh nhân bị bệnh Hemophilia nhóm A (một chứng bệnh do thiếu yếu tố VIII bẩm sinh). ADVATE được chỉ định cho tất cả các nhóm tuổi.
Liều dùng/Hướng dẫn sử dụng
Việc điều trị nên được tiến hành dưới sự giám sát của một bác sĩ có kinh nghiệm điều trị bệnh Hemophilia và có sự chuẩn bị sẵn sàng thiết bị hỗ trợ hồi sức tim phổi ngay lập tức trong trường hợp bị sốc phản vệ.
Liều lượng
Liều lượng và thời lượng điều trị thay thế tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng thiếu yếu tố VIII, vào vị trí và phạm vi xuất huyết và theo tình trạng lâm sàng của bệnh nhân.
Số đơn vị yếu tố VIII được thể hiện bằng đơn vị quốc tế International Unit (IU), liên quan đến tiêu chuẩn của WHO về các sản phẩm có chứa yếu tố VIII. Hoạt độ của yếu tố VIII trong huyết tương được thể hiện bằng một tỷ lệ phần trăm (tương quan với huyết tương bình thường ở người) hoặc bằng IU (tương quan với tiêu chuẩn quốc tế cho yếu tố VIII trong huyết tương).
Một đơn vị quốc tế International Unit (IU) cho hoạt độ của yếu tố VIII tương đương với số lượng yếu tố VIII trong một mL huyết tương bình thường ở người.
Điều trị theo nhu cầu
Việc tính toán liều lượng cần thiết của yếu tố VIII dựa trên phát hiện qua kinh nghiệm rằng 1 IU yếu tố VIII cho mỗi kg trọng lượng cơ thể làm tăng hoạt độ yếu tố VIII huyết tương thêm lên 2 IU/dL. Liều lượng cần thiết được xác định bằng công thức sau đây:
Đơn vị cần thiết (IU) = trọng lượng cơ thể (kg) x mức tăng Yếu tố VIII mong muốn (%) x 0,5
Trong trường hợp có xuất huyết, hoạt độ của yếu tố VIII không được thấp dưới mức hoạt độ của huyết tương đã cho biết (bằng tỷ lệ % của mức thông thường hoặc IU/dL) trong thời gian tương ứng. Có thể dùng bảng 2 sau đây để hướng dẫn cách định liều trong những trường hợp xuất huyết và phẫu thuật:
- xem Bảng 2.

Image from Drug Label Content

Nên điều chỉnh liều lượng và tần suất dùng thuốc theo đáp ứng lâm sàng ở từng trường hợp cá nhân. Trong những hoàn cảnh nhất định (ví dụ có chất ức chế nồng độ thấp), có thể cần sử dụng các liều lớn hơn những liều được tính bằng công thức này.
Trong quá trình điều trị, việc xác định các mức yếu tố VIII huyết tương thích hợp được khuyến nghị để hướng dẫn liều lượng cần dùng và tần suất tiêm lặp lại. Trong trường hợp can thiệp đại phẫu cụ thể, không thể thiếu sự giám sát chính xác việc điều trị thay thế bằng các phương pháp thử hoạt độ yếu tố VIII huyết tương. Từng bệnh nhân có thể có đáp ứng khác nhau với yếu tố VIII, đạt đến các mức hồi phục in vivo khác nhau và thể hiện thời gian bán thải khác nhau.
Điều trị phòng ngừa
Để phòng ngừa lâu dài tình trạng xuất huyết ở bệnh nhân bị bệnh Hemophilia nhóm A dạng nặng, các liều thông thường là 20 đến 40 IU yếu tố VIII cho mỗi kg trọng lượng cơ thể dùng cách nhau khoảng 2 đến 3 ngày.
Bệnh nhi
Đối với điều trị theo nhu cầu việc phân chia liều ở bệnh nhi (0 đến 18 tuổi) không khác với bệnh nhân người lớn. Ở bệnh nhân dưới 6 tuổi, để điều trị phòng ngừa thì nên dùng các liều 20 đến 50 IU yếu tố VIII cho mỗi kg trọng lượng cơ thể, 3 đến 4 lần mỗi tuần.
Chưa có tài liệu ghi chép về việc dùng dạng bào chế 2 mL cho đối tượng bệnh nhi dưới 2 tuổi.
Cách sử dụng
ADVATE nên được tiêm qua đường tĩnh mạch. Trong trường hợp việc tiêm thuốc do một người không có chuyên môn chăm sóc y tế thực hiện, phải có sự huấn luyện thích hợp cho người đó.
Tốc độ tiêm phải được xác định để đảm bảo sự thoải mái của bệnh nhân và không vượt quá 10mL/phút.
Sau khi hoàn nguyên, dung dịch sẽ trong suốt, không màu, không có các hạt lạ và có độ pH từ 6,7 đến 7,3.
Để biết hướng dẫn cách hoàn nguyên dược phẩm này trước khi tiêm, vui lòng xem mục Thận trọng đặc biệt cho tiêu hủy và thao tác khác.
Chống chỉ định
Mẫn cảm với hoạt chất hoặc tá dược bất kỳ được liệt kê trong mục Thành phần hoặc mẫn cảm với protein chuột hoặc hamster.
Cảnh báo và thận trọng
Cảnh báo và thận trọng đặc biệt khi sử dụng
Mẫn cảm
Đã có báo cáo về các phản ứng mẫn cảm loại dị ứng, bao gồm sốc phản vệ với ADVATE. Sản phẩm này có chứa yếu tố protein của chuột và hamster. Nếu triệu chứng mẫn cảm xuất hiện, bệnh nhân nên ngưng dùng thuốc ngay lập tức và liên lạc với bác sĩ của mình. Bệnh nhân phải được báo cho biết về các dấu hiệu sớm của phản ứng mẫn cảm bao gồm phát ban, mày đay toàn thân, tức ngực, thở khò khè, hạ huyết áp và sốc phản vệ.
Trong trường hợp có sốc, nên áp dụng điều trị y khoa tiêu chuẩn.
Do việc giảm thể tích tiêm đối với ADVATE được hoàn nguyên trong 2 mL nước cất pha tiêm, nếu có các phản ứng mẫn cảm xảy ra, sẽ có ít thời gian phản ứng để dừng việc tiêm. Do đó, cần thận trọng trong khi tiêm ADVATE hoàn nguyên trong 2 mL nước cất pha tiêm, nhất là ở trẻ em.
Chất ức chế:
Sự hình thành các kháng thể trung hòa (chất ức chế) chống lại yếu tố VIII là một loại biến chứng đã biết trong việc điều trị các cá nhân bị bệnh Hemophilia nhóm A. Những chất ức chế này thường là IgG immunoglobulin chống lại hoạt động thúc đẩy đông máu của yếu tố VIII, được định lượng bằng Đơn vị Bethesda Unit (BU) cho mỗi ml huyết tương theo phương pháp định lượng điều chỉnh. Ở bệnh nhân hình thành những chất ức chế yếu tố VIII, tình trạng đó sẽ biểu hiện bằng giảm đáp ứng lâm sàng. Trong trường hợp như vậy, nên liên lạc với một trung tâm chuyên khoa điều trị bệnh Hemophilia. Nguy cơ hình thành chất ức chế tương quan với mức độ tiếp xúc với yếu tố VIII, nguy cơ cao nhất là trong vòng 20 ngày tiếp xúc đầu tiên, và tương quan với các yếu tố gen và môi trường khác. Hiếm khi có trường hợp này nhưng chất ức chế có thể hình thành sau 100 ngày tiếp xúc đầu tiên.
Đã quan sát thấy các trường hợp chất ức chế (nồng độ thấp) tái phát sau khi chuyển từ sản phẩm yếu tố VIII này sang một loại khác ở các bệnh nhân từng được điều trị trong hơn 100 ngày tiếp xúc và có tiền sử hình thành chất ức chế. Do đó, nên giám sát cẩn thận tất cả bệnh nhân để phát hiện sự phát sinh chất ức chế sau khi thay đổi sản phẩm bất kỳ.
Nhìn chung, tất cả bệnh nhân được điều trị bằng yếu tố đông máu VIII nên được giám sát cẩn thận để phát hiện sự hình thành chất ức chế bằng cách quan sát lâm sàng và xét nghiệm thích hợp. Nếu không đạt đến các mức hoạt độ yếu tố VIII huyết tương, hoặc nếu tình trạng xuất huyết không được kiểm soát bằng liều thích hợp, thì nên xét nghiệm xem có sự hiện diện chất ức chế yếu tố VIII. Ở bệnh nhân có các mức chất ức chế cao, liệu pháp thay thế yếu tố VIII có thể không hiệu quả và nên cân nhắc các lựa chọn điều trị khác. Việc điều trị những bệnh nhân như vậy nên có sự hướng dẫn của bác sĩ có kinh nghiệm về chăm sóc bệnh nhân bị bệnh Hemophilia và chất ức chế yếu tố VIII.
Dùng sai ADVATE
Đối với ADVATE được hoàn nguyên với 2 mL nước chất pha tiêm, việc dùng sai cách (tiêm vào động mạch hoặc gần tĩnh mạch) có thể dẫn đến các phản ứng nhẹ, ngắn hạn tại chỗ tiêm chẳng hạn như bầm tím và hồng ban.
Các biến chứng trong điều trị liên quan đến ống catheter
Nếu cần dùng dụng cụ tiếp cận tĩnh mạch trung tâm (CVAD), nên cân nhắc nguy cơ biến chứng liên quan đến CVAD bao gồm nhiễm trùng cục bộ, nhiễm khuẩn huyết và huyết khối tại chỗ đặt ống catheter.
Cân nhắc liên quan tá dược
Sau khi hoàn nguyên dược phẩm này chứa 0,45 mmol natri (10 mg) trong mỗi lọ. Nên lưu ý điều này nếu bệnh nhân đang có chế độ ăn có kiểm soát lượng natri.
Có khuyến cáo mạnh mẽ rằng mỗi khi dùng ADVATE cho bệnh nhân, cần ghi lại tên và số lô của sản phẩm để duy trì sự liên hệ giữa bệnh nhân và lô dược phẩm sử dụng.
Bệnh nhi:
Các cảnh báo và thận trọng đã nêu áp dụng cho cả người trưởng thành và trẻ em.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc
ADVATE không gây ảnh hưởng đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Sử dụng ở phụ nữ có thai & cho con bú
Các nghiên cứu về sinh sản trên động vật chưa được tiến hành với yếu tố VIII. Căn cứ vào việc bệnh Hemophilia A hiếm khi phát sinh ở phụ nữ, không có kinh nghiệm nào về việc sử dụng yếu tố VIII trong thời kỳ mang thai và cho con bú. Do đó, yếu tố VIII chỉ nên được dùng trong thời kỳ mang thai và cho con bú nếu có chỉ định rõ ràng.
Tương tác
Chưa tiến hành nghiên cứu về tương tác với ADVATE.
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
Tác dụng không mong muốn
Tóm tắt dữ liệu về an toàn
Các nghiên cứu lâm sàng với ADVATE đã bao gồm 418 đối tượng với ít nhất một tiếp xúc với ADVATE đã báo cáo 93 phản ứng bất lợi với thuốc (ADR). ADR đã xảy ra với tần suất cao nhất là sự hình thành kháng thể trung hòa yếu tố VIII (chất ức chế), đau đầu và phát sốt.
Hiếm khi quan sát thấy các phản ứng mẫn cảm hay phản ứng dị ứng (có thể bao gồm phù mạch, bỏng rát và nhức ở vị trí sử dụng, ớn lạnh, khó thở, trào huyết, mày đay toàn thân, đau đầu, phát ban, hạ huyết áp, ngủ lịm, buồn nôn, thao thức, tim đập nhanh, tức ngực, đau nhói dây thần kinh, nôn, thở khò khè) và có thể trong một số trường hợp chuyển thành phản ứng phản vệ nghiêm trọng (bao gồm sốc phản vệ).
Hình thành kháng thể kháng protein của chuột và/hoặc hamster với các phản ứng mẫn cảm có thể quan sát thấy.
Bệnh nhân bị bệnh Hemophilia A có thể hình thành kháng thể trung hòa (chất ức chế) yếu tố VIII. Nếu chất ức chế như vậy xuất hiện, tình trạng đó sẽ biểu hiện bằng giảm đáp ứng lâm sàng. Trong trường hợp như vậy, nên liên lạc với một trung tâm chuyên khoa điều trị bệnh máu khó đông.
Bảng tóm tắt các phản ứng bất lợi
Bảng 3 sau đây cho biết tần suất xảy ra phản ứng bất lợi với thuốc trong các thử nghiệm lâm sàng và từ các báo cáo tự phát. Bảng được lập theo hệ thống phân loại hệ cơ quan MedDRA (Mức SOC và Thuật ngữ Ưu tiên).
Nhóm tần suất được xác định theo cách chuyển đổi sau đây: rất phổ biến (≥ 1/10), phổ biến (≥ 1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000), không biết (không thể ước tính từ dữ liệu sẵn có). Trong mỗi nhóm tần suất, các tác dụng ngoại ý được trình bày theo thứ tự mức nghiêm trọng giảm dần.
- xem Bảng 3.

Image from Drug Label Content

Mô tả các phản ứng bất lợi chọn lọc
Hình thành Chất ức chế
Đã có báo cáo về sự hình thành chất ức chế ở những bệnh nhân từng được điều trị (PTP) và ở những bệnh nhân chưa từng điều trị (PUP). Để biết thêm chi tiết hãy tham khảo mục Các đặc tính dược lực họcCảnh báo và thận trọng đặc biệt khi sử dụng.
Phản ứng bất lợi đặc hiệu với dư chất từ quá trình sản xuất
Trong số 229 bệnh nhân điều trị đã được kiểm tra kháng thể với protein tế bào buồng trứng chuột hamster Trung Quốc (CHO), 3 bệnh nhân đã cho thấy xu hướng tăng nồng độ đáng kể, 4 bệnh nhân cho thấy nồng độ đỉnh duy trì hoặc tăng thoáng qua và một bệnh nhân cho thấy cả hai kết quả nhưng không có triệu chứng trên lâm sàng. Trong số 229 bệnh nhân điều trị đã được kiểm tra kháng thể với IgG chuột, 10 bệnh nhân đã cho thấy xu hướng tăng nồng độ đáng kể, 2 bệnh nhân cho thấy nồng độ đỉnh duy trì hoặc tăng thoáng qua và một bệnh nhân cho thấy cả hai kết quả. Bốn bệnh nhân trong số này đã báo cáo tình trạng riêng biệt gồm mày đay, ngứa, nổi mẩn, và tăng nhẹ lượng bạch cầu ái toan trong những lần tiếp xúc lặp lại với thuốc thử nghiệm.
Mẫn cảm
Các phản ứng dạng dị ứng bao gồm phản ứng phản vệ và đã biểu hiện bằng choáng váng, dị cảm, nổi mẩn, trào huyết, sưng mặt, mày đay và ngứa.
Bệnh nhi
Ngoài việc hình thành chất ức chế ở các bệnh nhi chưa được điều trị trước đó (PUP), và các biến chứng liên quan ống catheter, không có sự khác biệt đặc hiệu theo tuổi nào về phản ứng bất lợi đã được nhắc đến trong các nghiên cứu lâm sàng.
Báo cáo các phản ứng bất lợi nghi ngờ
Việc báo cáo về các phản ứng bất lợi nghi ngờ sau khi dược phẩm này được cho phép lưu hành là rất quan trọng. Nó cho phép giám sát liên tục mối quan hệ cân bằng lợi ích/nguy cơ của dược phẩm này. Chuyên viên chăm sóc y tế được yêu cầu báo cáo những tác dụng phụ bất kỳ này thông qua hệ thống báo cáo quốc gia.
Quá liều
Chưa có báo cáo nào về các triệu chứng quá liều yếu tố đông máu VIII tái tổ hợp.
Thận trọng lúc dùng
Thận trọng đặc biệt cho tiêu hủy và thao tác khác
ADVATE là để sử dụng qua đường tĩnh mạch sau khi đã hoàn nguyên.
Phải kiểm tra các sản phẩm đã hoàn nguyên bằng mắt thường để phát hiện các tiểu phân và/hoặc biến đổi màu.
Sau khi hoàn nguyên, dung dịch phải trong suốt, không màu và không có các tiểu phân. Không được sử dụng các dung dịch vẩn đục hoặc có cặn lắng.
- Để dùng thuốc thì cần sử dụng xylanh luer-lock.
- Sử dụng trong vòng 3 tiếng sau khi hoàn nguyên.
- Không bảo quản dung dịch đã hoàn nguyên trong tủ lạnh.
- Cần tiêu hủy bất kỳ dược phẩm nào không dùng tới hoặc chất thải theo các quy định của địa phương.
Hoàn nguyên bằng dụng cụ BAXJECT II:
- Chỉ dùng nước cất pha tiêm và dụng cụ hoàn nguyên cung cấp kèm trong mỗi gói để hoàn nguyên thuốc.
- Không sử dụng nếu dụng cụ BAXJECT II, hệ thống bao vô trùng của dụng cụ hoặc bao bì của dụng cụ đã bị hư hại hoặc có bất cứ dấu hiệu hỏng hóc.
- Phải dùng Kỹ thuật vô khuẩn
1. Nếu sản phẩm vẫn được bảo quản trong tủ lạnh, hãy lấy lọ bột ADVATE và lọ dung môi khỏi tủ lạnh và để chúng trở về nhiệt độ phòng (khoảng từ 15°C đến 25°C).
2. Rửa tay kỹ lưỡng bằng xà phòng và nước ấm.
3. Tháo nắp lọ thuốc bột và lọ dung môi.
4. Vệ sinh nút chặn lọ bằng bông tẩm cồn. Đặt các lọ lên một bề mặt sạch và bằng phẳng.
5. Mở gói dụng cụ BAXJECT II bằng cách bóc nắp giấy mà không chạm vào bên trong gói (Hình a). Không lấy dụng cụ ra khỏi gói. Không sử dụng nếu dụng cụ BAXJECT II, hệ thống bao vô trùng của dụng cụ hoặc bao bì của dụng cụ đã bị hư hại hoặc có bất cứ dấu hiệu hỏng hóc.
6. Lật gói dụng cụ xuống và đâm đinh nhọn bằng nhựa trong qua nút chặn lọ dung môi. Nắm vào rìa gói đựng rồi kéo gói đựng tách ra khỏi dụng cụ BAXJECT II (Hình b). Không tháo nắp màu xanh khỏi dụng cụ BAXJECT II.
7. Chỉ dùng nước cất pha tiêm và dụng cụ hoàn nguyên cung cấp kèm trong mỗi gói để hoàn nguyên thuốc. Để dụng cụ BAXJECT II gắn vào lọ dung môi, lật ngược khối gắn kết sao cho lọ dung môi nằm trên bộ dụng cụ hoàn nguyên. Đâm đinh nhọn bằng nhựa trắng qua nút chặn lọ thuốc bột ADVATE. Lực hút chân không sẽ hút dung môi vào trong lọ thuốc bột ADVATE (Hình c).
8. Lắc nhẹ cho tới khi tất cả chất đã được hòa tan. Phải đảm bảo thuốc bột ADVATE hòa tan hoàn toàn, nếu không dung dịch đã hoàn nguyên sẽ không chảy hết qua màng lọc của dụng cụ. Sản phẩm này tan nhanh (thường chưa tới 1 phút). Sau khi hoàn nguyên, dung dịch phải trong suốt, không màu và không có các tiểu phân.

Image from Drug Label Content

Hoàn nguyên bằng bộ dụng cụ BAXJECT III:
- Không dùng nếu nắp đậy không được hàn kín trên gói bao bì
1. Nếu sản phẩm vẫn được bảo quản trong tủ lạnh, hãy lấy gói bao bì hàn kín (chứa lọ bột và lọ dung môi đã lắp sẵn với bộ dụng cụ hoàn nguyên) khỏi tủ lạnh và để chúng trở về nhiệt độ phòng (khoảng từ 15°C đến 25°C).
2. Rửa tay kỹ lưỡng bằng xà phòng và nước ấm.
3. Mở gói sản phẩm ADVATE bằng cách bóc nắp đậy. Tháo nắp bộ dụng cụ BAXJECT III khỏi bao bì.
4. Đặt ADVATE lên một bề mặt bằng phẳng với lọ dung môi ở trên (Hình 1). Lọ dung môi có vạch màu xanh. Không tháo nắp xanh cho tới khi được hướng dẫn tháo nắp ở bước sau.
5. Dùng một tay giữ lọ ADVATE trong bộ dụng cụ BAXJECT III, ấn chặt xuống lọ dung môi bằng tay còn lại cho tới khi hệ thống hạ xuống hoàn toàn và dung môi chảy xuống vào lọ ADVATE (Hình 2). Không nghiêng bộ dụng cụ cho tới khi dung môi chảy qua hết lọ thuốc.
6. Kiểm tra xem dung môi đã chảy hết qua lọ thuốc. Lắc nhẹ cho tới khi tất cả chất đã được hòa tan. Phải đảm bảo thuốc bột ADVATE hòa tan hoàn toàn, nếu không dung dịch đã hoàn nguyên sẽ không chảy hết qua màng lọc của dụng cụ. Sản phẩm này tan nhanh (thường chưa tới 1 phút). Sau khi hoàn nguyên, dung dịch phải trong suốt, không màu và không có các tiểu phân.

Image from Drug Label Content

Sử dụng
Cần dùng kỹ thuật vô khuẩn
Các dược phẩm dạng tiêm phải được kiểm tra về tiểu phân trước khi dùng, bất cứ khi nào dung dịch và lọ chứa cho phép. Chỉ nên dùng dung dịch trong và không màu.
1. Tháo nắp màu xanh khỏi dụng cụ BAXJECT II/ BAXJECT III. Không rút không khí vào trong xylanh. Đẩy đầu kim xylanh vào dụng cụ BAXJECT II / BAXJECT III.
2. Lật ngược khối dụng cụ (lọ chứa dung dịch đã hoàn nguyên phải ở phía trên). Rút dung dịch đã hoàn nguyên vào trong xylanh bằng cách kéo từ từ pit-tông của xylanh.
3. Lấy xylanh khỏi lọ thuốc.
4. Gắn kim bướm vào xylanh. Tiêm đường tĩnh mạch. Phải tiêm dung dịch từ từ theo tốc độ được xác định bằng mức độ thoải mái của bệnh nhân và không vượt quá 10mL mỗi phút. Phải xác định nhịp mạch trước và trong quá trình dùng ADVATE. Nếu thấy có biểu hiện tăng đáng kể, giảm tốc độ tiêm hoặc tạm thời dừng tiêm sẽ làm các triệu chứng biến mất nhanh chóng (xem mục Cảnh báo và thận trọng Tác dụng không mong muốn).
Bảo quản
Bảo quản thuốc ở 2°C – 8°C. Không để đông lạnh. Tránh ánh sáng.
ADVATE với dụng cụ BAXJECT II: Bảo quản lọ thuốc trong hộp đựng ngoài để tránh ánh sáng.
ADVATE trong bộ dụng cụ BAXJECT III: Bảo quản gói sản phẩm hàn kín trong hộp đựng ngoài để tránh ánh sáng.
Sau khi hoàn nguyên, về mặt vi sinh vật học, cần phải sử dụng sản phẩm ngay lập tức. Tuy nhiên, độ ổn định hóa tính và lý tính khi sử dụng đã được chứng minh trong 3 giờ ở nhiệt độ 25°C.
Trong thời hạn sử dụng, có thể được bảo quản sản phẩm ở nhiệt độ phòng (tối đa 25°C) trong thời hạn không quá 6 tháng. Nên ghi lại ngày cuối cùng của giai đoạn 6 tháng khi bảo quản ở nhiệt độ phòng lên thùng đựng sản phẩm. Không thể đưa sản phẩm này vào tủ lạnh để bảo quản lại.
Phân loại MIMS
Thuốc cầm máu
Phân loại ATC
B02BD02 - coagulation factor VIII ; Belongs to the class of blood coagulation factors. Used in the treatment of hemorrhage.
Trình bày/Đóng gói
Dạng
Advate Bột đông khô pha tiêm 1000 IU
Trình bày/Đóng gói
1's
Dạng
Advate Bột đông khô pha tiêm 1500 IU
Trình bày/Đóng gói
1's
Dạng
Advate Bột đông khô pha tiêm 250 IU
Trình bày/Đóng gói
1's
Dạng
Advate Bột đông khô pha tiêm 500 IU
Trình bày/Đóng gói
1's