Dược động học của pembrolizumab đã được nghiên cứu ở 2.993 bệnh nhân có các ung thư biểu mô khác nhau, đã dùng liều trong khoảng từ 1-10 mg/kg mỗi 2 tuần, 2-10 mg/kg mỗi 3 tuần hoặc 200 mg mỗi 3 tuần. Không có sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng về dược động học của pembrolizumab ở các chỉ định.
Hấp thu: KEYTRUDA được dùng qua đường tĩnh mạch và do đó có sinh khả dụng ngay lập tức và hoàn toàn.
Phân bố: Phù hợp với sự phân bố ngoại mạch hạn chế, thể tích phân bố của pembrolizumab ở trạng thái ổn định nhỏ (khoảng 6 lít; hệ số biến thiên [CV]: 20%). Như đã dự kiến đối với kháng thể, pembrolizumab không gắn kết với protein huyết tương theo cách đặc hiệu.
Chuyển hóa: Pembrolizumab được dị hóa qua các con đường không đặc hiệu; sự chuyển hóa không góp phần vào quá trình thanh thải thuốc.
Thải trừ: Độ thanh thải của pembrolizumab (CV%) thấp hơn khoảng 23% [giá trị trung bình hình học, 195 ml/ngày (40%)] sau khi đạt được sự thay đổi tối đa ở trạng thái ổn định so với liều đầu tiên (252 mL/ngày [CV%: 37%]); sự giảm độ thanh thải này theo thời gian không được xem là quan trọng trên lâm sàng. Giá trị trung bình hình học (CV%) đối với thời gian bán hủy pha cuối (t½) là 22 ngày (32%).
Nồng độ pembrolizumab ở trạng thái ổn định đạt được vào lúc 16 tuần sau khi dùng liều lặp lại với phác đồ điều trị mỗi 3 tuần và sự tích lũy toàn thân gấp 2,1 lần. Nồng độ đỉnh (Cmax), nồng độ đáy (Cmin) và diện tích dưới đường cong nồng độ trong huyết tương theo thời gian ở trạng thái ổn định (AUCss) của pembrolizumab tăng tỷ lệ với liều dùng trong khoảng liều từ 2-10 mg/kg mỗi 3 tuần.
Các nhóm bệnh nhân đặc biệt
Ảnh hưởng của các đồng biến số khác nhau lên dược động học của pembrolizumab đã được đánh giá trong các phân tích dược động học quần thể. Các yếu tố sau không ảnh hưởng quan trọng trên lâm sàng lên độ thanh thải của pembrolizumab: tuổi (khoảng 15-94 tuổi), giới tính, chủng tộc, suy thận nhẹ hoặc trung bình, suy gan nhẹ và gánh nặng khối u. Mối quan hệ giữa thể trọng và độ thanh thải hỗ trợ việc sử dụng liều cố định hoặc liều lượng dựa trên thể trọng để đem lại sự kiểm soát đầy đủ và tương tự về nồng độ. Nồng độ pembrolizumab với liều dùng dựa trên cân nặng ở mức liều 2 mg/kg mỗi 3 tuần ở bệnh nhân trẻ em (từ 2 đến 17 tuổi) tương đương với nồng độ ở người lớn với cùng liều.
Suy thận: Ảnh hưởng của suy thận lên độ thanh thải của pembrolizumab đã được đánh giá bằng phân tích dược động học quần thể ở bệnh nhân suy thận nhẹ (tốc độ lọc của cầu thận (GFR) < 90 và ≥ 60 mL/phút/1,73 m2) hoặc trung bình (GFR < 60 và ≥ 30 mL/phút/1,73 m2) so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường (GFR ≥ 90 mL/phút/1,73 m2). Không có sự khác biệt quan trọng trên lâm sàng về độ thanh thải của pembrolizumab giữa bệnh nhân suy thận nhẹ hoặc trung bình và bệnh nhân có chức năng thận bình thường. KEYTRUDA chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân suy thận nặng (GFR < 30 và ≥ 15 mL/phút/1,73 m2). [Xem phần Liều lượng và cách dùng].
Suy gan: Ảnh hưởng của suy gan lên độ thanh thải của pembrolizumab đã được đánh giá bằng phân tích dược động học quần thể ở bệnh nhân suy gan nhẹ (bilirubin toàn phần (TB) gấp 1,0-1,5 lần giới hạn trên của mức bình thường (ULN) hoặc AST > ULN như được xác định bằng cách sử dụng tiêu chuẩn của Viện Ung thư quốc gia Mỹ về rối loạn chức năng gan) so với bệnh nhân có chức năng gan bình thường (bilirubin toàn phần và AST ≤ ULN). Không quan sát thấy sự khác biệt quan trọng trên lâm sàng về độ thanh thải của pembrolizumab giữa bệnh nhân suy gan nhẹ và bệnh nhân có chức năng gan bình thường. KEYTRUDA chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân suy gan trung bình (bilirubin toàn phần > 1,5-3 lần ULN và bất kỳ giá trị AST) hoặc suy gan nặng (bilirubin toàn phần > 3 lần ULN và bất kỳ giá trị AST). [Xem phần Liều lượng và cách dùng].
Đăng xuất