Lodimax

Lodimax

amlodipine

Nhà sản xuất:

OPV
Thông tin kê toa chi tiết tiếng Việt
Thành phần
Mỗi viên: Amlodipine 5 mg hoặc 10 mg (dưới dạng amlodipine besilate).
Mô tả
Thành phần tá dược: Cellulose vi tinh thể PH 102, dicalci phosphat khan, natri starch glycolat, silic oxyd dạng keo khan, magnesi stearat, opadry II white.
Dạng bào chế:
Lodimax 5: Viên nén dài bao phim, hình oval, màu trắng, hai mặt lồi, có in số "5" màu đen trên hai mặt viên.
Lodimax 10: Viên nén bao phim, hình oval, màu trắng, hai mặt lồi, lành lặn.
Dược lực học
Nhóm dược lý: Thuốc chẹn kênh calci, thuốc chẹn kênh calci chọn lọc với tác dụng chủ yếu trên mạch máu.
Mã ATC: C08CA01
Amlodipine là 1 thuốc chẹn dòng ion calci (thuốc chẹn kênh calci hay chất đối vận ion calci) và ức chế dòng ion calci qua màng tế bào vào trong các tế bào cơ tim và cơ trơn mạch máu.
Cơ chế hạ huyết áp của amlodipine là do tác dụng giãn trực tiếp cơ trơn mạch máu. Cơ chế chính xác của amlodipine làm giảm đau thắt ngực vẫn chưa được xác định đầy đủ, nhưng amlodipine làm giảm gánh nặng thiếu máu tổng cộng do hai tác dụng sau:
- Amlodipine làm giãn các tiểu động mạch ngoại vi và do đó làm giảm sức cản ngoại vi tổng cộng đối với tim (giảm hậu gánh). Do nhịp tim không thay đổi, nên sự giảm gánh nặng này cho tim làm giảm tiêu thụ năng lượng và nhu cầu oxy của cơ tim.
- Cơ chế tác dụng của amlodipine cũng có thể bao gồm việc giãn các động mạch vành chính và các tiểu động mạch vành, cả ở vùng thiếu máu và vùng bình thường. Sự giãn mạch này làm gia tăng việc cung cấp oxy cho cơ tim ở những bệnh nhân bị co thắt động mạch vành (đau thắt ngực Prinzmetal hay đau thắt ngực biến thiên) và làm giảm các cơn co thắt mạch vành do hút thuốc lá.
Ở bệnh nhân tăng huyết áp, liều một lần/ngày làm giảm đáng kể huyết áp trên lâm sàng ở cả tư thế nằm và đứng trong suốt 24 giờ. Do đặc tính khởi đầu tác dụng chậm, nên amlodipine tránh được sự tụt huyết áp cấp khi sử dụng.
Ở bệnh nhân bị đau thắt ngực, dùng một lần/ngày amlodipine làm tăng thời gian gắng sức tổng cộng, thời gian khởi đầu cơn đau thắt ngực và thời gian đoạn ST chênh xuống 1 mm, làm giảm cả tần suất cơn đau thắt ngực và giảm lượng nitroglycerin phải sử dụng.
Amlodipine không liên quan tới bất kỳ tác dụng bất lợi nào về chuyển hóa hay những thay đổi về lipid máu và thích hợp để sử dụng ở bệnh nhân bị hen, đái tháo đường và bị bệnh gút (gout).
Sử dụng ở bệnh nhân mắc bệnh mạch vành (CAD)
Tác dụng của amlodipine trên tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, sự tiến triển của quá trình xơ vữa động mạch vành và động mạch cảnh đã được nghiên cứu trong thử nghiệm đánh giá tiến cứu, ngẫu nhiên tác động trên mạch máu của amlodipine (nghiên cứu PRECENT).
Nghiên cứu đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng bằng giả dược này bao gồm 825 bệnh nhân CAD được xác định bằng phương pháp chụp mạch vành trong vòng 3 năm. Nhóm đối tượng ngiên cứu bao gồm các bệnh nhân đã có tiền sử bị nhồi máu cơ tim (MI, 45%), các bệnh nhân đã được nong mạch vành qua da (PTCA) ở lần khám đầu (42%), hoặc các bệnh nhân đã có tiền sử của bệnh đau thắt ngực (69%). Mức độ trầm trọng của bệnh mạch vành được phân loại từ 1 mạch máu bị ảnh hưởng (45%) đến 3 mạch máu trở lên bị ảnh hưởng (21%). Các bệnh nhân bị tăng huyết áp mà không được kiểm soát (huyết áp tâm trương [diastolic blood pressure], DBP > 95 mmHg) bị loại khỏi nghiên cứu. Các biến cố tim mạch dược đánh giá bởi một hội đồng với các tiêu chí đánh giá được giữ kín. Mặc dù không có tác động rõ ràng lên sự tiến triển của các tổn thương ở động mạch vành, amlodipine lại kiềm chế sự tiến triển độ dày lớp áo giữa của động mạch cảnh. Ở nhóm bệnh nhân điều trị bằng amlodipine quan sát thấy có sự giảm đáng kể (-31%) trên tiêu chí đánh giá kết hợp về tử vong do các bệnh tim mạch, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, nong mạch vành qua da, phẫu thuật bắc cầu mạch vành, nhập viện do cơn đau thắt ngực không ổn định và suy tim sung huyết (CHF) trầm trọng lên. Tỷ lệ thực hiện các thủ thuật tái thông mạch (nong mạch vành qua da, phẫu thuật bắc cầu mạch vành) cũng giảm đáng kể (-42%) ở nhóm điều trị bằng amlodipine. Các trường hợp nhận viện do cơn đau thắt ngực không ổn định cũng ít hơn (-32%) ở bệnh nhân điều trị bằng amlodipine so với nhóm dùng giả dược.
Hiệu quả của amlodipine trong việc ngăn ngừa các biến cố trên lâm sàng ở những bệnh nhân bị bệnh mạch vành (CAD) đã được đánh giá trong một nghiên cứu độc lập, đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng bằng giả dược trên 1.997 bệnh nhân. Nghiên cứu này so sánh giữa amlodipine và enelapril trong việc hạn chế các biến cố do huyết khối (CAMELOT). Trong số các bệnh nhân này, 663 bệnh nhân được điều trị bằng amlodipine 5 mg đến 10 mg và 655 bệnh nhân dùng giả dược, bên cạnh các điều trị tiêu chuẩn bao gồm các thuốc statin, thuốc chẹn beta, thuốc lợi tiểu và aspirin trong 2 năm. Những kết quả chính về hiệu quả của thuốc được trình bày trong Bảng 1. Các kết quả cho thấy rằng việc điều trị bằng amlodipine có liên quan đến sự giảm các trường hợp phải nhập viện do cơn đau thắt ngực và giảm thực hiện thủ thuật tái thông mạch ở bệnh nhân bị bệnh mạch vành (CAD).
- xem Bảng 1.

Image from Drug Label Content

Thử nghiệm điều trị phòng ngừa đau tim (Treatment to Prevent Heart Attack Trial - ALLHAT)
Một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi về tỷ lệ mắc bệnh-tỷ lệ tử vong mang tên Thử nghiệm điều trị tăng huyết áp và giảm lipid máu để phòng ngừa đau tim (ALLHAT) đã được thực hiện nhằm so sánh các liệu pháp sử dụng thuốc mới hơn: như amlodipine 2,5 mg/ngày đến 10 mg/ngày (thuốc chẹn kênh calci) hoặc lisinopril 10 mg/ngày đến 40 mg/ngày (thuốc ức chế men chuyển) được dùng như liệu pháp đầu tay so với thuốc lợi tiểu thiazide, chlorthalidone 12,5 mg/ngày đến 25 mg/ngày trên bệnh nhân tăng huyết áp vừa và nhẹ.
Tổng cộng 33.357 bệnh nhân tăng huyết áp từ 55 tuổi trở lên được chọn ngẫu nhiên và theo dõi trong thời gian trung bình là 4,9 năm. Các bệnh nhân này đều có thêm ít nhất một yếu tố nguy cơ đối với bệnh mạch vành, bao gồm nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ trong > 6 tháng hoặc đã được ghi nhận là có các bệnh tim mạch liên quan đến xơ vữa động mạch (tổng cộng là 51,5%), tiểu đường týp 2, HDL-C < 35 mg/dL (high-density lipoprotein, HDL-C) (11,6%), phì đại thất trái được chẩn đoán bởi điện tâm đồ hoặc chụp vang siêu âm tim (20,9%), hiện tại đang hút thuốc là (21,9%).
Tiêu chí đánh giá chính là tiêu chí kết hợp của bệnh mạch vành (CHD) gây tử vong hoặc nhồi máu cơ tim (MI) không gây tử vong. Không có sự khác biệt có ý nghĩa trong tiêu chí đánh giá chính giữa nhóm điều trị amlodipine và nhóm điều trị chlorthalidone: RR 0,98; 95% CI [0,90-1,07], p = 0,65. Ngoài ra, không có sự khác biệt về tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân giữa nhóm điều trị amlodipine và nhóm điều trị chlorthalidone: RR 0,96; 95% CI [0,89-1,02], p = 0,20.
Sử dụng ở bệnh nhân suy tim
Các nghiên cứu về huyết động và các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, dựa trên hoạt động gắng sức ở các bệnh nhân bị suy tim từ độ II đến độ IV theo phân loại của NYHA (Hiệp hội tim mạch New York) đã cho thấy rằng amlodipine không gây ra sự suy giảm trên lầm sàng, được đo bởi khả năng dung nạp các hoạt động gắng sức, phân suất tống máu thất trái và các triệu chứng lâm sàng.
Một nghiên cứu có đối chứng bằng giả dược (nghiên cứu PRAISE) được thiết kế nhằm đánh giá các bệnh nhân suy tim độ III-IV theo phân loại của NYHA, đang được điều trị bằng digoxin, thuốc lợi tiểu và các thuốc ức chế men chuyển, đã cho thấy rằng amlodipine không làm tăng nguy cơ tử vong hoặc tỷ lệ kết hợp tử vong và bệnh tật ở bệnh nhân suy tim.
Trong một nghiên cứu dài hạn có đối chứng bằng giả dược tiếp theo (Nghiên cứu PRAISE-2) sử dụng amlodipine trên các bệnh nhân bị suy tim độ III và IV theo phân loại của NYHA, các bệnh nhân này không có các triệu chứng lâm sàng hay có các kết quả xét nghiệm khách quan gợi ý có bệnh thiếu máu cục bộ tiềm ẩn và đang dùng các liều ổn định của các thuốc ức chế men chuyển, trợ tim digitalis và thuốc lợi tiểu, kết quả cho thấy rằng amlodipine không có ảnh hưởng đến tỷ lệ tử vong tổng cộng hay tỷ lệ tử vong do các bệnh tim mạch. Với cùng nhóm đối tượng nghiên cứu này, amlodipine được báo cáo có liên quan tới sự tăng các trường hợp phù phổi, mặc dù không thấy có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ các bệnh nhân bị suy tim trầm trọng lên giữa nhóm dùng amlodipine so với nhóm dùng giả dược.
Sử dụng ở bệnh nhi (tuổi từ 6 đến 17)
Hiệu lực của amlodipine trên bệnh nhi tăng huyết áp có độ tuổi từ 6 đến 17 đã được chứng minh trong một nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi, kéo dài 8 tuần, có đối chứng bằng giả dược trên 268 bệnh nhi bị tăng huyết áp. Tất cả các bệnh nhân được chỉ định ngẫu nhiên vào nhóm điều trị 2,5 mg hoặc 5 mg và theo dõi trong 4 tuần, rồi sau đó được chọn ngẫu nhiên để tiếp tục dùng 2,5 mg hoặc 5 mg amlodipine hoặc giả dược trong 4 tuần tiếp theo. So sánh với lần khám ban đầu, điều trị một lần một ngày với amlodipine 5 mg làm giảm huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương có ý nghĩa thống kê. Ở trường hợp dùng giả dược, huyết áp tâm thu tư thế ngồi giảm trung bình là 5,0 mmHg với amlodipine liều 5 mg và 3,3 mmHg với liều amlodipine 2,5 mg. Nghiên cứu từ các nhóm cho thấy bệnh nhi nhỏ hơn (6 đến 13 tuổi) có kết quả tương đương như bệnh nhi từ 14 đến 17 tuổi.
Dược động học
Hấp thu
Sau khi uống các liều điều trị, amlodipine được hấp thu tốt với nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được vào khoảng 6 đến 12 giờ sau khi uống. Sinh khả dụng tuyệt đối được ước lượng vào khoảng 64%-80%. Thể tích phân bố xấp xỉ 21 L/kg. Sự hấp thu amlodipine không bị ảnh hưởng bởi thức ăn.
Các nghiên cứu in vitro cho thấy khoảng 97,5% amlodipine trong tuần hoàn gắn với protein huyết tương.
Chuyển hóa/thải trừ
Thời gian bán thải trong huyết tương của amlodipine nằm trong khoảng từ 35 đến 50 giờ và phù hợp với liều dùng thuốc một lần hàng ngày. Nồng độ ở trạng thái hằng định trong huyết tương đạt được sau 7 đến 8 ngày dùng thuốc liên tục.
Amlodipine được chuyển hóa phần lớn tại gan thành ác chất chuyển hóa không có hoạt tính, với 10% chất ban đầu và 60% chất chuyển hóa được đào thải qua nước tiểu.
Sử dụng ở người cao tuổi
Thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương của amlodipine là giống nhau giữa người cao tuổi và người trẻ. Tuy nhiên, độ thanh thải của amlodipine có khuynh hướng giảm kéo theo sự gia tăng của diện tích dưới đường cong (AUC) và thời gian bán thải ở các bệnh nhân cao tuổi.
Diện tích dưới đường cong và thời gian bán thải cũng tăng lên ở các bệnh nhân bị suy tim sung huyết (CHF).
Sử dụng ở trẻ em
Trong một nghiên cứu lâm sàng tiếp cận thường xuyên, 73 bệnh nhi từ 12 tháng tuổi cho đến nhỏ hơn hoặc bằng 17 tuổi bị tăng huyết áp dùng amlodipine trung bình mỗi ngày là 0,17 mg/kg. Độ thanh thải ở các bệnh nhi này với thể trọng trung bình 45 kg lần lượt là 23,7 L/giờ và 17,6 L/giờ đối với nam và nữ. Độ thanh thải này cũng nằm trong giới hạn tương tự như đánh giá được công bố ở người lớn thể trọng 70 kg là 24,8 L/giờ. Thể tích phân bố được ước tính trung bình là 1.130 L (25,11 L/kg) ở bệnh nhân thể trọng 45 kg. Hiệu lực duy trì huyết áp trong khoảng thời gian 24 giờ giữa các liều được quan sát thấy có rất ít sự khác nhau về dao động cực đại và cực tiểu. Khi so sánh với dược động học ở người lớn, các thông số trong nghiên cứu này cho thấy liều dùng một lần mỗi ngày là thích hợp.
An toàn tiền lâm sàng
Khả năng gây ung thư
Không thấy có dấu hiệu gây ung thư ở chuột cống và chuột nhắt được sử dụng amlodipine trong chế độ ăn trong 2 năm, với nồng độ được tính toán để mức liều dùng hàng ngày là 0,5; 1,25 và 2,5 mg/kg/ngày. Liều dùng cao nhất (ở chuột nhắt và tương tự với chuột cống là gấp đôi* liều chỉ định lâm sàng tối đa 10 mg trên một đơn vị mg/m2) gần với mức tổng liều dung nạp được ở chuột nhắt, nhưng không phải ở chuột cống.
Khả năng gây đột biến
Các nghiên cứu về khả năng gây đột biến cho thấy thuốc không gây ảnh hưởng trên hệ gan hoặc nhiễm sắc thể.
Suy giảm chức năng sinh sản
Không có ảnh hưởng tới chức năng sinh sản của chuột cống dùng amlodipine (chuột đực dùng 64 ngày và chuột cái dùng 14 ngày trước khi giao phối) ở liều lên tới 10 mg/kg/ngày (8 lần* liều tối đa chỉ định cho người, 10 mg trên một đơn vị mg/m2).
*Dựa trên bệnh nhân thể trọng 50 kg.
Chỉ định/Công dụng
Điều trị tăng huyết áp:
Amlodipin có thể được sử dụng như đơn trị liệu hoặc phối hợp với các thuốc chống tăng huyết áp khác để kiểm soát huyết áp.
Điều trị bệnh động mạch vành:
Dự phòng cơn đau thắt ngực ổn định và cơn đau thắt ngực Prinzmetal.
Liều dùng/Hướng dẫn sử dụng
Cách dùng:
Dùng đường uống.
Liều dùng:
Người lớn:
Cho cả bệnh tăng huyết áp và đau thắt ngực: Liều khởi đầu thông thường là 5 mg 1 lần mỗi ngày, có thể được tăng đến liều tối đa là 10 mg tùy theo đáp ứng của từng bệnh nhân.
Ở những bệnh nhân tăng huyết áp, amlodipin được sử dụng kết hợp với thuốc lợi tiểu thiazid, chẹn alpha, chẹn beta, hoặc thuốc ức chế enzym chuyển angiotensin. Đối với đau thắt ngực, amlodipin có thể được sử dụng như đơn trị liệu hoặc phối hợp với các thuốc chống đau thắt ngực khác ở những bệnh nhân đau thắt ngực mà không đáp ứng với nitrat và/hoặc không đáp ứng với liều thích hợp của các thuốc chẹn beta. Không cần thiết phải điều chỉnh liều amlodipin khi dùng đồng thời với các thuốc lợi tiểu thiazid, chẹn beta và thuốc ức chế enzym chuyển angiotensin.
Nhóm đối tượng đặc biệt:
Bệnh nhân cao tuổi: Sử dụng amlodipin ở liều tương tự được dung nạp tốt như nhau ở bệnh nhân cao tuổi và bệnh nhân trẻ hơn. Phác đồ điều trị thông thường được khuyên dùng ở người lớn tuổi, nhưng việc tăng liều dùng nên được tiến hành cẩn thận.
Bệnh nhân suy gan: Liều dùng khuyến cáo chưa được xác định ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến trung bình. Do đó, việc chọn liều dùng nên được tiến hành thận trọng và nên bắt đầu ở liều thấp trong phạm vi liều (xem mục Cảnh báo và thận trọngDược động học). Dược động học của amlodipin chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân suy gan nặng. Amlodipin nên được bắt đầu ở liều thấp nhất và điều chỉnh liều chậm ở những bệnh nhân suy gan nặng.
Bệnh nhân suy thận: Những thay đổi về nồng độ amlodipin huyết tương không tương quan với mức độ suy thận, do đó liều dùng thông thường được khuyến cáo. Amlodipin không được thẩm tách.
Trẻ em:
Trẻ em và thanh thiếu niên từ 6 tuổi đến 17 tuổi bị tăng huyết áp: Liều khuyến cáo để trị tăng huyết áp ở bệnh nhi từ 6-17 tuổi: Khởi đầu 2,5 mg một lần mỗi ngày, tăng đến 5 mg một lần mỗi ngày nếu huyết áp mục tiêu không đạt được sau 4 tuần. Liều dùng vượt quá 5 mg mỗi ngày chưa được nghiên cứu ở bệnh nhi (xem mục Dược lực họcDược động học).
Trẻ em dưới 6 tuổi: Chưa có dữ liệu.
Chống chỉ định
Quá mẫn với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Bệnh nhân được biết mẫn cảm với amlodipin và các thuốc khác trong nhóm dihydropiridin.
Hạ huyết áp nặng.
Sốc, bao gồm cả sốc tim.
Suy tim có huyết động không ổn định sau khi bị nhồi máu cơ tim cấp.
Tắc nghẽn đường thoát ra của tâm thất trái (ví dụ, hẹp động mạch chủ).
Đau thắt ngực không ổn định, ngoại trừ cơn đau thắt ngực Prinzmetal.
Cảnh báo và thận trọng
Sử dụng ở bệnh nhân suy tim:
Trong một nghiên cứu dài hạn, có kiểm chứng bằng giả dược (nghiên cứu PRAISE-2) sử dụng amlodipine trên những bệnh nhân bị suy tim không do nguồn gốc thiếu máu, độ III và IV theo phân loại của Hiêp hội tim mạch New York (New York Heart Association, NYHA), amlodipine được báo cáo là có liên quan tới sự gia tăng tỷ lệ phù phổi. Tuy nhiên không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ bệnh nhân bị suy tin trầm trọng lên ở nhóm amlodipine so với nhóm giả dược (xem mục Dược lực học).
Sử dụng ở bệnh nhân suy giảm chức năng gan:
Cũng giống như tất cả các thuốc chẹn kênh calci khác, thời gian bán thải của amlodipine bị kéo dài ở bệnh nhân suy giảm chức năng gan và liều khuyến cáo cho các bệnh nhân này vẫn chưa được thiết lập. Do đó, amlodipine cần phải được sử dụng thận trọng ở các bệnh nhân này.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:
Amlodipin có thể có ảnh hưởng đến khả năng lái xe, vận hành máy móc, làm việc trên cao và các hoạt động khác. Nếu bệnh nhân dùng amlodipin bị chóng mặt, chứng song thị, đau đầu, mệt mỏi hay buồn nôn sẽ làm khả năng phản ứng của cơ thể giảm. Cần thận trọng, đặc biệt khi bắt đầu điều trị.
Sử dụng ở phụ nữ có thai & cho con bú
Thời kỳ mang thai
Độ an toàn của amlodipine ở phụ nữ có thai và cho con bú chưa được thiết lập. Amlodipine không gây độc trong các nghiên cứu trên hệ sinh sản của động vật, ngoại trừ việc làm chậm quá trình chuyển dạ vài kéo dài thời gian đẻ ở chuột với một liều cao gấp 50 lần liều khuyến cáo sử dụng tối đa ở người. Do đó chỉ nên sử dụng amlodipine trong thời kỳ mang thai khi không có biện pháp thay thế nào an toàn hơn và khi bản thân bệnh chứa đựng sự rủi ro lớn hơn cho bà mẹ và phôi thai. Không thấy có tác động lên khả năng sinh sản của chuột cống được điều trị bằng amlodipine (xem An toàn tiền lâm sàng).
Thời kỳ cho con bú
Kinh nghiệm sử dụng trên người cho thấy rằng amlodipine có đi qua sữa mẹ. Tỷ lệ nồng độ trung vị của amlodipine trong sữa/huyết tương ở 31 phụ nữ đang cho con bú bị tăng huyết áp do thai kỳ là 0,85 sau khi sử dụng amlodipine ở liều khởi đầu là 5 mg/lần/ngày và được điều chỉnh nếu cần (liều dùng trung bình hàng ngày và liều dùng hàng ngày theo thể trọng lần lượt là 6 mg và 98,7 mcg/kg). Liều dùng hàng ngày ước tính của amlodipine mà trẻ sơ sinh nhận được qua sữa mẹ là 4,17 mcg/kg. Vì thề, nên ngưng cho con bú trong thời gian điều trị với amlodipine.
Tương tác
Amlodipin được dùng an toàn khi kết hợp với thuốc lợi tiểu thiazid, ức chế thụ thể alpha, thuốc chẹn beta, thuốc ức chế enzym chuyển dạng angiotensin, dẫn xuất nitrat (nitrate tác dụng kéo dài, nitroglycerin ngậm dưới lưỡi), các thuốc chống viêm không steroid, các kháng sinh và thuốc hạ đường huyết đường uống.
Các dữ liệu in vitro từ các nghiên cứu trên huyết tương người chứng minh rằng amlodipin không có tác dụng trên sự gắn kết với protein huyết tương của các thuốc digoxin, phenytoin, warfarin hay indomethacin).
Các thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs), đặc biệt là indomethacin có thể làm giảm tác dụng chống tăng huyết áp của amlodipin do ức chế sự tổng hợp prostaglandin tại thận và/hoặc giữ natri và dịch.
Các thuốc gây mê làm tăng hiệu quả chống tăng huyết áp của amlodipin. Amlodipin liên kết cao với protein huyết tương nên phải thận trọng với các thuốc dùng chung có cùng tính chất liên kết cao với protein huyết tương.
Simvastatin
Dùng nhiều liều 10 mg amlodipine đồng thời với 80 mg simvastatin là tăng 77% tỷ lệ phơi nhiễm cới simvastatin so với chỉ dùng simvastatin. Với bệnh nhân dùng amlodipine, giới hạn liều của simvastatin là 20 mg/ngày.
Nước bưởi chùm
Dùng đồng thời 240 mL nước bưởi chùm với một liều uống duy nhất 10 mg amlodipine ở 20 người tình nguyện khỏe mạnh không gây ảnh hưởng đáng kể lên dược động học của amlodipine. Nghiên cứu này không cho phép kiểm tra ảnh hưởng của dạng đa hình di truyền của CYP3A4, enzym chính chịu trách nhiệm chuyển hóa amlodipine; vì thế không nên dùng amlodipine cùng với bưởi chùm hoặc nước bưởi chùm vì sinh khả dụng có thể tăng ở một số bệnh nhân dẫn đến làm tăng tác dụng hạ huyết áp.
Các chất ức chế CYP3A4
Dùng đồng thời 180 mg liều hàng ngày của diltiazem với 5 mg amlodipine cho người cao tuổi (69-87 tuổi) bị tăng huyết áp làm tăng 57% tỷ lệ phơi nhiễm hệ thống với amlodipine. Dùng đồng thời với erythromycin trên người tình nguyện khỏe mạnh (18-43 tuổi) không làm thay đổi đáng kể tỷ lệ phơi nhiễm hệ thống với amlodipine (tăng 22% diện tích dưới đường cong của đường biểu diễn nồng độ thuốc trong máu theo thời gian [AUC]). Mặc dù liên quan lâm sàng của các nghiên cứu này chưa chắc chắn, sự thay đổi dược động học có thể được thông báo nhiều hơn ở bệnh nhân cao tuổi.
Các chất ức chế mạnh CYP3A4 (như ketoconazole, itraconazole, ritonavir) có thể làm tăng nồng độ amlodipine trong máu lớn hơn nhiều so với diltiazem. Nên thận trọng khi sử dụng amlodipine cùng với các chất ức chế CYP3A4.
Clarithromycin
Clarithromycin là một chất ức chế CYP3A4. Nguy cơ hạ huyết áp tăng lên ở bệnh nhân dùng clarithromycin cùng với amlodipine. Nên theo dõi bệnh nhân chặt chẽ khi sử dụng đồng thời amlodipine với clarithromycin.
Các chất cảm ứng CYP3A4
Không có thông tin liên quan đến tác động của các chất cảm ứng CYP3A4 trên amlodipin. Việc sử dụng đồng thời các thuốc gây cảm ứng CYP3A4 (ví dụ rifampicin, Hypericum perforatum) có thể làm hạ nồng độ huyết tương của amlodipin. Amlodipin nên được dùng thận trọng với các chất cảm ứng CYP3A4.
Trong những ngiên cứu dưới đây, không có những thay đổi đáng kể về dược động học của amlodipine hay của các thuốc khác trong nghiên cứu khi dùng kết hợp.
Các nghiên cứu đặc biệt: Ảnh hưởng của các thuốc khác lên amlodipine
Cimetidine
Dùng đồng thời amlodipine và cimetidine không làm thay đổi dược động học của amlodipine.
Muối nhôm/muối magnesi (các thuốc kháng acid)
Sử dụng đồng thời các thuốc kháng acid là muối nhôm và muối magnesi với một liều duy nhất của amlodipine không gây ảnh hưởng đáng kể lên dược động học của amlodipine.
Sidenafil
Sử dụng liều duy nhất 100 mg sildenafil ở các đối tượng bị tăng huyết áp vô căn không làm ảnh hưởng đến các thông số dược động học của amlodipine. Khi sử dụng phối hợp amlodipine và sildenafil, mỗi thuốc đều có riêng tác dụng hạ áp.
Các nghiên cứu đặc biệt: Ảnh hưởng của amlodipine tới các thuốc khác
Atorvastatin
Dùng đồng thời đa liều 10 mg amlodipine với 80 mg atorvastatin không làm thay đổi đáng kể các thông số dược động học của atorvastatin ở trạng thái nồng độ ổn định trong huyết tương.
Digoxin
Sử dụng đồng thời amlodipine với digoxin không làm thay đổi nồng độ digoxin trong huyết tương hoặc độ thanh thải qua thận của digoxin ở những người tình nguyên khỏe mạnh.
Ethanol (rượu)
Sử dụng đơn liều hay đa liều 10 mg amlodipine không gây ảnh hưởng đáng kể lên dược động học của ethanol.
Warfarin
Dùng đồng thời amlodipine với warfarin không làm thay đổi thời gian ức chế prothrombin của warfarin.
Cyclosporin
Chưa có các nghiên cứu về tương tác thuốc giữa cyclosporin và amlodipine ở những người tình nguyện khỏe mạnh hoặc nhóm đối tượng khác, ngoại trừ các bệnh nhân ghép thận. Các nghiên cứu khác nhau ở bệnh nhân ghép thận cho thấy việc dùng đồng thời amlodipine với cyclosporin ảnh hưởng đến nồng độ đáy của cyclosporin từ không thay đổi đến tăng trung bình 40%. Cần xem xét để theo dõi mức cyclosporin ở bệnh nhân ghép thận dùng amlodipine.
Tacrolimus
Có nguy cơ tăng nồng độ tacrolimus trong máu khi sử dụng đồng thời với amlodipine. Để tránh độc tính của tacrolimus, khi sử dụng amlodipine cho bệnh nhân đang điều trị bằng tacrolimus, cần theo dõi nồng độ tacrolimus trong máu và điều chỉnh liều tacrolimus thích hợp.
Mục tiêu cơ học của các thuốc ức chế rapamycin (mTOR)
Các thuốc ức chế mTOR, chẳng hạn như sirolimus, temsirolimus và everolimus là cơ chất của CYP3A. Amlodipine là một thuốc ức chế CYP3A yếu. Khi sử dụng đồng thời với các chất ức chế mTOR, amlodipine có thể tăng phơi nhiễm của các thuốc ức chế mTOR.
Dantrolen (tiêm truyền)
Ở động vật, đã có báo cáo rung thất và trụy tim mạch gây tử vong có liên quan với tăng kali máu sau khi uống verapamil và tiêm tĩnh mạch dantrolen. Do nguy cơ tăng kali máu nên tránh dùng đồng thời các thuốc chẹn kênh calci như amlodipin ở bệnh nhân nhạy cảm với chứng tăng thân nhiệt ác tính và trong việc chăm sóc chứng tăng thân nhiệt ác tính.
Các tương tác giữa thuốc với các xét nghiệm sinh hóa: chưa được biết.
Tương kỵ
Không áp dụng.
Tác dụng không mong muốn
Rất thường gặp, ADR = 1/10
Rối loạn toàn thân: Phù nề.
Thường gặp, 1/100 = ADR < 1/10
Rối loạn hệ thần kinh: Ngủ gà, hoa mắt, đau đầu (Đặc biệt khi bắt đầu điều trị).
Rối loạn thị giác: Rối loạn thị giác (Gồm cả chứng song thị).
Rối loạn tim mạch: Đánh trống ngực, đỏ bừng.
Rối loạn hô hấp: Khó thở.
Rối loạn tiêu hóa: Đau bụng, buồn nôn, khó tiêu, thay đổi thói quen đi cầu (Bao gồm tiêu chảy và táo bón).
Rối loạn cơ xương và mô liên kết: Ankle sưng, đau cơ.
Rối loạn toàn thân: Mệt mỏi, suy nhược.
Ít gặp, 1/1.000 = ADR < 1/100
Rối loạn tâm thần: Trầm cảm, thay đổi tâm trạng (bao gồm lo âu), mất ngủ.
Rối loạn hệ thần kinh: Run, loạn vị giác, ngất, giảm xúc giác, dị cảm.
Rối loạn thính giác: Ù tai.
Rối loạn tim mạch: Loạn nhịp tim (Bao gồm nhịp tim chậm, nhịp nhanh thất và rung nhĩ), hạ huyết áp.
Rối loạn hô hấp: Ho, viêm mũi.
Rối loạn tiêu hóa: Nôn, khô miệng.
Rối loạn da và mô dưới da: Rụng tóc, ban xuất huyết, đổi màu da, tăng tiết mồ hôi, ngứa, phát ban, ngoại ban, nổi mề đay.
Rối loạn cơ xương và mô liên kết: Đau khớp, đau cơ, đau lưng.
Rối loạn thận và tiết niệu: Rối loạn tiểu tiện, tiểu đêm, đi tiểu nhiều lần.
Rối loạn hệ sinh sản: Bất lực, vú to ở nam giới.
Rối loạn toàn thân: Đau ngực, đau, khó chịu.
Khác: Tăng cân, giảm cân.
Hiếm gặp, 1/10.000 = ADR < 1/1.000
Rối loạn tâm thần: Lẫn.
Rất hiếm gặp, ADR < 1/10.000
Rối loạn máu và bạch huyết: Giảm bạch cầu, giảm tiểu cầu.
Rối loạn hệ miễn dịch: Phản ứng dị ứng.
Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng: Tăng đường huyết.
Rối loạn hệ thần kinh: Tăng trương lực, bệnh thần kinh ngoại biên.
Rối loạn tim mạch: Nhồi máu cơ tim, viêm mạch.
Rối loạn tiêu hóa: Viêm tụy, viêm dạ dày, tăng sản nướu.
Rối loạn gan: Viêm gan, vàng da, tăng enzym gan.
Rối loạn da và mô dưới da: Phù mạch, hồng ban đa dạng, viêm da tróc vảy, hội chứng Stevens- Johnson, phù Quincke, nhạy cảm ánh sáng.
Bệnh nhi (6-17 tuổi)
Amlodipine dung nạp tốt ở trẻ em. Các tác dụng không mong muốn này tương tự như những tác dụng không mong muốn quan sát thấy ở người lớn. Trong một nghiên cứu với 268 trẻ em, những tác dụng không mong muốn thường gặp nhất là:
Rối loạn hệ thần kinh: đau đầu, chóng mặt
Rối loạn mạch: giãn mạch
Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất: chảy máu cam.
Rối loạn tiêu hóa: đau bụng
Rối loạn toàn thân và tại chỗ: suy nhược
Phần lớn mức độ của các tác dụng không mong muốn là nhẹ hoặc trung bình. Các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng (chủ yếu là đau đầu) được quan sát thấy ở 7,2% bệnh nhân dùng amlodipine 2,5 mg; 4,5% dùng amlodipine 5 mg và 4,6% dùng giả dược. Lí do phổ biến nhất của việc ngừng tham gia nghiên cứu là tăng huyết áp không kiểm soát được. Không có trường hợp nào ngừng tham gia nghiên cứu do có sự bất thường về xét nghiệm. Không có sự thay đổi đáng kể nào về nhịp tim.
Quá liều
Triệu chứng
Các dữ liệu hiện có gợi ý rằng việc quá liều với mức độ lớn có thể gây giãn mạch ngoại vi và có thể kèm theo nhịp tim nhanh. Có báo cáo về sự tụt mạnh huyết áp, có thể kéo dài và bao gồm sốc có tử vong.
Cách xử trí
Sự hấp thu amlodipine giảm đáng kể khi chỉ định than hoạt ngay lúc đó hoặc trong vòng 2 giờ sau khi uống amlodipine 10 mg ở những người tình nguyện khỏe mạnh. Trong vài trường hợp có thể cần rửa dạ dày. Với các trường hợp tụt huyết áp nặng do việc sử dụng quá liều amlodipine, cần phải có các biện pháp hỗ trợ tim mạch tích cực bao gồm việc theo dõi thường xuyên các chức năng về tim mạch và hô hấp, kê cao tay chân và chú ý đến thể tích tuần hoàn và lượng nước tiểu. Có thể sử dụng một thuốc co mạch để phục hồi trương lực mạch máu và huyết áp, miễn là bệnh nhân không có chống chỉ định sử dụng thuốc đó. Có thể tiêm tĩnh mạch calci gluconat để đảo ngược lại tác dụng chẹn calci. Do amlodipine gắn kết nhiều với protein huyết tương nên thẩm phân lọc máu không mang lại kết quả trong trường hợp này.
Bảo quản
Ở nhiệt độ dưới 30oC, nơi khô ráo, tránh ánh sáng.
Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
Phân loại MIMS
Thuốc đối kháng calci
Phân loại ATC
C08CA01 - amlodipine ; Belongs to the class of dihydropyridine derivative selective calcium-channel blockers with mainly vascular effects. Used in the treatment of cardiovascular diseases.
Trình bày/Đóng gói
Dạng
Lodimax 10 Viên nén 10 mg
Trình bày/Đóng gói
2 × 10's
Dạng
Lodimax 5 Viên nén 5 mg
Trình bày/Đóng gói
2 × 10's