Hấp thu
Racecadotril được hấp thu nhanh chóng sau khi uống.
Lượng phơi nhiễm ở trạng thái ổn định có thể so sánh với lượng phơi nhiễm sau một liều duy nhất.
Sinh khả dụng của racecadotril không bị thay đổi bởi thức ăn, nhưng nồng độ đỉnh bị chậm lại khoảng 1 giờ 30 phút.
Phân bố
Sau khi uống một liều racecadotril được đánh dấu bằng 14C ở người tình nguyện khỏe mạnh, nồng độ của racecadotril trong huyết tương cao hơn gấp 200 lần so với trong tế bào máu và cao hơn gấp 3 lần so với máu toàn phần. Do đó, thuốc không liên kết với các tế bào máu ở bất cứ lượng dùng đáng kể nào.
Sự phân bố carbon phóng xạ trong các mô khác của cơ thể là vừa phải, được thể hiện qua thể tích phân bố biểu kiến trung bình trong huyết tương là 66,4 kg. 90% chất chuyển hóa có hoạt tính của racecadotril, thiorphan, liên kết với protein huyết tương, chủ yếu là với albumin.
Thời gian và mức độ tác dụng của racecadotril phụ thuộc vào liều dùng. Thời gian đạt đỉnh ức chế enkephalinase trong huyết tương là khoảng 2 giờ và tương ứng mức ức chế 75% với liều 100 mg. Với liều 100 mg, thời gian ức chế enkephalinase trong huyết tương khoảng 8 giờ.
Chuyển hóa
Thời gian bán thải của racecadotril, được tính bằng sự ức chế enkephalinase huyết tương, khoảng 3 giờ. Racecadotril nhanh chóng bị thủy phân thành thiorphan = (RS)-N-(1-oxo-2-(mercaptomethyl)-3-phenylpropyl) glycine, chất chuyển hóa có hoạt tính, sau đó chất này sẽ được chuyển thành các chất chuyển hóa không có hoạt tính là sulfoxide của S-methylthiorphan, S-methylthiorphan, acid 2-methanesulfinylmethyl propionic và acid 2-methylsulfanylmethyl propionic, tất cả các chất được tạo thành đều ở mức cao hơn 10% lượng thuốc phơi nhiễm toàn thân.
Các chất chuyển hóa phụ khác cũng được phát hiện và định lượng trong nước tiểu và phân.
Việc dùng lặp lại racecadotril không gây tích lũy thuốc trong cơ thể.
Dữ liệu in vitro cho thấy racecadotril/thiorphan và 4 chất chuyển hóa chính không có hoạt tính không ức chế các dạng enzym CYP chính như 3A4, 2D6, 2C9, 1A2 và 2C19 đến mức độ có liên quan lâm sàng.
Dữ liệu in vitro cho thấy racecadotril/thiorphan và 4 chất chuyển hóa chính không có hoạt tính không cảm ứng các dạng enzym CYP (họ 3A, 2A6, 2B6, 2C9/2C19, họ 1A, 2E1) và các enzym liên hợp UGTs đến mức độ có liên quan lâm sàng.
Racecadotril không làm thay đổi khả năng gắn kết protein của các hoạt chất gắn kết mạnh với protein như tolbutamide, warfarin, acid niflumic, digoxin hoặc phenytoin.
Ở bệnh nhân suy gan (xơ gan, độ B của thang phân loại Child-Pugh), dữ liệu động học của chất chuyển hóa có hoạt tính của racecadotril cho thấy Tmax và T1/2 tương tự; Cmax thấp hơn (-65%) và AUC thấp hơn (-29%) khi so sánh với các đối tượng khỏe mạnh.
Ở bệnh nhân suy thận nặng (hệ số thanh thải creatinin 11-39 mL/phút), dữ liệu động học của chất chuyển hóa có hoạt tính của racecadotril cho thấy Cmax thấp hơn (-49%), AUC cao hơn (+16%) và T1/2 cao hơn khi so sánh với người tình nguyện khỏe mạnh (hệ số thanh thải creatinin > 70 mL/phút).
Ở trẻ em, kết quả dược động học tương tự như ở người trưởng thành, đạt Cmax sau khi uống 2 giờ 30 phút. Không có sự tích lũy thuốc sau khi dùng nhiều liều mỗi 8 giờ, trong 7 ngày.
Thải trừ
Racecadotril được thải trừ dưới dạng chất chuyển hóa có hoạt tính và không có hoạt tính. Thải trừ chủ yếu qua thận (81,4%), và lượng ít hơn qua phân (khoảng 8%). Thải trừ qua phổi không đáng kể (dưới 1% liều dùng).
Đăng xuất