Nghiên cứu tương tác thuốc chỉ được thực hiện ở người lớn.
Rủi ro liên quan đến tăng kali máu
Một số thuốc hoặc nhóm thuốc có thể làm tăng kali máu: muối kali, thuốc lợi tiểu tiết kiệm kali, thuốc ức chế men chuyển (ACE), thuốc đối kháng thụ thể angiotensin-II, thuốc chống viêm không steroid, heparin (trọng lượng phân tử thấp hoặc không phân đoạn), ciclosporin, tacrolimus và trimethoprim.
Sự khởi phát của tăng kali máu có thể phụ thuộc vào việc có các yếu tố liên quan.
Nguy cơ này tăng lên khi các thuốc trên được sử dụng đồng thời với meloxicam.
Tương tác dược lực học
Các thuốc chống viêm không steroid khác (NSAID) và acid acetylsalicylic
Không khuyến cáo kết hợp với các thuốc chống viêm không steroid khác, bao gồm acid acetylsalicylic với liều ≥ 500 mg uống một lần hoặc ≥ 3 g tổng lượng hàng ngày. Sử dụng nhiều NSAID cùng nhau có thể làm tăng nguy cơ loét và chảy máu đường tiêu hóa do tác dụng hiệp đồng.
Corticosteroid (ví dụ: glucocorticoids): Việc sử dụng đồng thời với corticosteroid nên thận trọng vì tăng nguy cơ chảy máu hoặc loét đường tiêu hóa.
Thuốc chống đông máu hoặc heparin trong điều trị bệnh hoặc dùng trong lão khoa: Tăng đáng kể nguy cơ chảy máu, thông qua ức chế chức năng tiểu cầu và tổn thương niêm mạc dạ dày. NSAID có thể làm tăng tác dụng của thuốc chống đông máu, như warfarin. Việc sử dụng đồng thời NSAID và thuốc chống đông máu hoặc heparin trong điều trị bệnh hoặc dùng trong lão khoa không được khuyến cáo.
Trong các trường hợp sử dụng heparin còn lại, cần thận trọng do tăng nguy cơ chảy máu. Cần theo dõi cẩn thận chỉ số INR nếu không thể tránh được sự kết hợp thuốc.
Thuốc chống huyết khối và thuốc chống tiểu cầu: Tăng nguy cơ chảy máu, thông qua ức chế chức năng tiểu cầu và tổn thương niêm mạc dạ dày tá tràng.
Các chất ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI): Tăng nguy cơ xuất huyết tiêu hóa.
Thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế men chuyển và thuốc đối kháng angiotensin-II: NSAID có thể làm giảm tác dụng của thuốc lợi tiểu và các thuốc hạ huyết áp khác. Ở một số bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận (ví dụ như bệnh nhân mất nước hoặc bệnh nhân cao tuổi bị suy thận), việc sử dụng kết hợp thuốc ức chế men chuyển hoặc thuốc đối kháng angiotensin-II và các chất ức chế cyclooxygenase có thể dẫn đến suy giảm chức năng thận, bao gồm cả suy thận cấp, thường hồi phục. Do đó, sự kết hợp nên được dùng thận trọng, đặc biệt là ở người cao tuổi. Bệnh nhân cần được cung cấp đủ nước, điện giải và nên xem xét theo dõi chức năng thận sau khi bắt đầu điều trị đồng thời, và định kỳ sau đó.
Các thuốc hạ huyết áp khác (ví dụ: thuốc chẹn beta): Có thể làm giảm tác dụng hạ huyết áp của thuốc chẹn beta (do ức chế prostaglandin có tác dụng giãn mạch).
Thuốc ức chế calcineurin (ví dụ: ciclosporin, tacrolimus): Độc tính trên thận của thuốc ức chế calcineurin có thể được tăng cường bởi NSAID, thông qua các tác dụng qua trung gian prostaglandin tại thận. Trong quá trình điều trị kết hợp, chức năng thận sẽ được theo dõi, đặc biệt là ở người cao tuổi.
Vòng tránh thai: NSAID đã được báo cáo làm giảm hiệu quả của vòng tránh thai. Đã có báo cáo NSAIDs làm giảm hiệu quả của vòng tránh thai nhưng cần xác nhận thêm.
Tương tác dược động học (Tác dụng của meloxicam đối với dược động học của các thuốc khác)
Lithium: NSAID đã được báo cáo làm tăng nồng độ lithium trong máu (thông qua giảm bài tiết lithium qua thận), có thể đạt đến nồng độ gây độc. Không nên sử dụng đồng thời lithium và NSAID. Nếu sự kết hợp này cần thiết, cần theo dõi cẩn thận nồng độ lithium trong huyết tương trong suốt quá trình điều trị, điều chỉnh và ngưng điều trị meloxicam.
Methotrexat: NSAIDs có thể làm giảm tiết methotrexat qua ống thận do đó làm tăng nồng độ methotrexat trong huyết tương. Vì lý do này, với các bệnh nhân dùng liều cao methotrexat (trên 15 mg/tuần), không khuyến cáo dùng đồng thời với NSAIDs. Nguy cơ tương tác giữa NSAIDs và methotrexat cũng nên được xem xét trên bệnh nhân dùng liều thấp methotrexat đặc biệt là bệnh nhân chức năng thận suy giảm. Trong trường hợp cần thiết kết hợp điều trị, cần theo dõi công thức máu và chức năng thận. Cần thận trọng trong trường hợp dùng đồng thời NSAIDs và methotrexat trong 3 ngày, khi mà nồng độ methotrexat huyết tương có thể tăng và làm tăng độc tính. Mặc dù dược động học của methotrexat (15 mg/tuần) không ảnh hưởng khi sử dụng đồng thời với meloxicam, cần xem xét độc tính trên hệ tạo máu của methotrexat có thể bị khuếch đại do điều trị cùng NSAIDs.
Tương tác dược động học (Tác dụng của các thuốc khác đối với dược động học của meloxicam)
Cholestyramin: Cholestyramin tăng tốc độ thải trừ meloxicam bằng cách làm gián đoạn lưu thông đường ruột, dẫn đến độ thanh thải meloxicam tăng 50% và thời gian bán hủy giảm xuống còn 13 + 3 giờ. Tương tác này có ý nghĩa lâm sàng.
Không có tương tác thuốc dược động học có ý nghĩa lâm sàng được phát hiện liên quan đến việc sử dụng đồng thời với các thuốc kháng acid, cimetidin và digoxin.
Đăng xuất