Nhóm trị liệu: Thuốc ức chế men chuyển angiotensin và thuốc chẹn kênh calci.
Mã ATC: C09BB03.
Lisonorm là thuốc phối hợp liều cố định từ hai hoạt chất là lisinopril và amlodipine.
Lisinopril:
Lisinopril là thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ƯCMC) có tác dụng làm giảm nồng độ angiotensin II và aldosterone huyết tương và làm tăng nồng độ huyết tương của bradykinin là chất gây giãn mạch. Thuốc làm giảm sức kháng mạch ngoại biên và huyết áp hệ thống. Những thay đổi này có thể kèm theo sự tăng cung lượng tim trong khi tần số tim không đổi và tăng lưu lượng máu qua thận. Trên bệnh nhân tăng glucose máu, lisinopril góp phần phục hồi chức năng nội mô đã bị tổn thương.
Tác dụng chống tăng huyết áp của lisinopril thường đạt được vào khoảng 1 giờ sau khi uống và đạt nồng độ đỉnh của thuốc sau 6 giờ. Thời gian tác dụng kéo dài 24 giờ - cũng tùy thuộc liều dùng. Khi ngừng lisinopril đột ngột, tác dụng đảo nghịch (tăng huyết áp) là không đáng kể.
Mặc dù tác dụng chính của lisinopril là do tác động trên hệ renin-angiotensin-aldosterone, nhưng lisinopril cũng có hiệu quả trên người bệnh tăng huyết áp mà có hoạt tính của renin huyết tương thấp. Ngoài tác dụng hạ huyết áp trực tiếp, lisinopril còn làm giảm albumin niệu nhờ điều hòa tình trạng huyết động và cấu trúc mô của cầu thận.
Điều trị với lisinopril không ảnh hưởng đến việc kiểm soát đường huyết, thể hiện qua việc thuốc không ảnh hưởng đáng kể đến nồng độ haemoglobin glycat hóa (HbA1c).
Việc giảm nồng độ aldosterone có thể dẫn tới sự gia tăng nồng độ kali huyết thanh. Các nghiên cứu lâm sàng, nhằm kiểm tra việc sử dụng kết hợp một thuốc ƯCMC với thuốc ức chế thụ thể angotensin II, đã cho thấy không có lợi ích đáng kể trên thận hay tim mạch và tỷ lệ tử vong, trong khi đó lại có nguy cơ tăng kali máu, tổn thương thận cấp hay tụt huyết áp so với đơn trị liệu. Do vậy thuốc ƯCMC và thuốc ức chế thụ thể angotensin II không nên dùng đồng thời ở những bệnh nhân bệnh thận do đái tháo đường. Nghiên cứu ALTITUDE (Aliskiren Trial in Type 2 Diabetes Using Cardiovascular and Renal Disease Endpoints) được thiết kế để đánh giá lợi ích khi thêm thuốc ức chế trực tiếp renin là aliskiren vào liệu pháp điều trị chuẩn với thuốc ƯCMC hoặc thuốc ức chế thụ thể angotensin II ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có kèm bệnh thận mạn tính, bệnh tim mạch, hoặc cả hai. Nghiên cứu đã phải ngừng sớm vì tăng nguy cơ tác dụng phụ. Số lượng tử vong tim mạch và đột quỵ được ghi nhận gặp phải thường xuyên hơn ở nhóm aliskiren so với nhóm giả dược và các tác dụng phụ nghiêm trọng (tăng kali máu, hạ huyết áp, và rối loạn chức năng thận) gặp phải thường xuyên hơn ở nhóm aliskiren so với nhóm giả dược.
Amlodipine:
Amlodipine là thuốc chẹn kênh calci thuộc nhóm dihydropyridine. Amlodipine ngăn chặn dòng calci đi vào tế bào cơ tim và tế bào cơ trơn mạch máu bằng cách ức chế các kênh ion calci chậm trên màng tế bào. Amlodipine làm giảm sức căng của cơ trơn tiểu động mạch, qua đó làm giảm sức kháng mạch ngoại biên, nên giảm huyết áp hệ thống.
Amlodipine làm giảm đau thắt ngực do làm giãn tiểu động mạch ngoại biên và giảm hậu tải tim, mà không kèm theo nhịp tim nhanh phản xạ, do đó làm giảm nhu cầu của cơ tim về oxy và năng lượng. Amlodipine có thể làm giãn mạch vành (động mạch và tiểu động mạch), tác dụng này cải thiện nguồn cung cấp oxy cho cơ tim, cả ở vùng lành cũng như vùng bị thiếu máu.
Dùng amlodipine với liều một lần mỗi ngày làm giảm huyết áp trong suốt 24 giờ ở người bệnh tăng huyết áp, cả ở tư thế nằm và tư thế đứng. Do tác dụng khởi phát chậm nên không gây ra tình trạng tụt huyết áp cấp tính.
Tác dụng chẹn kênh calci làm giãn động mạch kèm theo tình trạng giữ natri và nước. Hoạt hóa bù hệ renin-angiotensin-aldosterone (RAAS) có thể xảy ra, do đó cơ chế điều hòa ngược kích hoạt bởi các thuốc ƯCMC có thể góp phần vào sự phục hồi những đáp ứng sinh lý đối với tình trạng gia tăng lượng muối đưa vào.
Amlodipine không liên quan đến những tác động chuyển hóa bất lợi hoặc những thay đổi đối với lipid huyết tương, và sử dụng phù hợp cho các bệnh nhân hen phế quản, đái tháo đường và bệnh gút.
Sign Out