Phân nhóm điều trị: thuốc ức chế men chuyển và chẹn kênh calci.
Mã ATC: C09BB04
Perindopril
Perindopril là thuốc ức chế enzym (men chuyển angiotensin: ACE) xúc tác cho phản ứng chuyển angiotensin I thành angiotensin II. Men chuyển, hoặc kinase, là một exopeptidase cho phép chuyển angiotensin I thành angiotensin II (một chất gây co mạch) cũng như giáng hóa các bradykinin giãn mạch thành heptapeptid không có hoạt tính. Ức chế men chuyển angiotensin dẫn đến làm giảm angiotensin II trong huyết tương, kết quả là gây tăng hoạt tính của renin trong huyết tương (bằng cách ức chế cơ chế điều hòa ngược âm tính của sự giải phóng renin) và giảm tiết aldosteron. Vì các ACE bất hoạt bradykinin nên việc ức chế ACE làm tăng hoạt tính của hệ kallikrein-kinin tại chỗ và trong hệ tuần hoàn (vì vậy hoạt hóa hệ thống prostaglandin). Cơ chế này có thể đóng góp vào tác dụng hạ huyết áp của các thuốc ức chế men chuyển và phần nào chịu trách nhiệm về một số tác dụng phụ của thuốc (ví dụ: ho).
Perindopril tác động thông qua dạng chuyển hóa có hoạt tính của nó là perindoprilat. Các chất chuyển hóa khác không thể hiện hoạt tính ức chế men chuyển trên
in vitro.
Tăng huyết áp
Perindopril tác dụng trên tất cả các mức độ tăng huyết áp: nhẹ, trung bình, nặng; thuốc làm giảm cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương ở cả tư thế nằm và tư thế đứng.
Perindopril làm giảm sức cản mạch ngoại vi, dẫn đến giảm huyết áp. Kết quả là làm tăng lưu lượng máu ngoại vi, và không ảnh hưởng đến nhịp tim.
Tăng lưu lượng máu qua thận, trong khi mức lọc cầu thận không đổi.
Tác dụng hạ huyết áp đạt tối đa trong vòng 4-6 giờ sau khi dùng liều đơn và duy trì ít nhất 24 giờ: tác dụng đáy đạt khoảng 87-100% tác dụng đỉnh.
Tác dụng giảm huyết áp xuất hiện sớm. Ở bệnh nhân có đáp ứng, huyết áp được đưa về mức bình thường trong vòng 1 tháng điều trị và duy trì ở mức ổn định không gặp hiện tượng quen thuốc nhanh.
Ngừng điều trị không gây hiệu ứng dội.
Perindopril làm giảm phì đại thất trái.
Perindopril đã được chứng minh có tác dụng giãn mạch máu ở người. Thuốc cải thiện tính đàn hồi động mạch lớn và giảm tỉ lệ của lớp áo giữa của thành mạch và lòng mạch ở các tiểu động mạch.
Điều trị bổ trợ với một thuốc lợi tiểu thiazid tạo ra tác dụng hiệp đồng kiểu cộng thêm. Kết hợp thuốc ức chế men chuyển và thiazid cũng làm giảm nguy cơ hạ kali máu do thuốc lợi tiểu.
Bệnh nhân có bệnh động mạch vành ổn định
Nghiên cứu EUROPA là nghiên cứu lâm sàng quốc tế, đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng giả dược (placebo) kéo dài 4 năm.
12.218 bệnh nhân trên 18 tuổi được dùng ngẫu nhiên 8 mg perindopril tert-butylamin (n=6.110) hoặc giả dược (n=6.108).
Các bệnh nhân tham gia nghiên cứu có bằng chứng về bệnh động mạch vành nhưng không có bằng chứng về dấu hiệu lâm sàng của suy tim. 90% bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim và/hoặc có tái thông mạch vành. Hầu hết bệnh nhân dùng thuốc nghiên cứu theo điều trị quy ước bao gồm thuốc ức chế kết tập tiểu cầu, thuốc hạ mỡ máu và thuốc chẹn beta.
Tiêu chí chính để đánh giá hiệu quả là một tiêu chí kết hợp bao gồm tử vong do nguyên nhân tim mạch, nhồi máu cơ tim không tử vong và/hoặc ngưng tim được hồi sức thành công. Điều trị với 8 mg perindopril tert-butylamin (tương đương 10 mg perindopril arginin) một lần mỗi ngày đã làm giảm có ý nghĩa tiêu chí chính với mức giảm tuyệt đối 1,9% (giảm nguy cơ tương đối là 20%, khoảng tin cậy 95%: [9,4; 28,6]; p < 0,001).
Ở những bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim và/hoặc tái thông mạch máu, thuốc làm giảm nguy cơ gặp tiêu chí chính so với placebo, với mức giảm tuyệt đối 2,2% tương ứng với mức giảm nguy cơ tương đối là 22,4% (khoảng tin cậy 95%: [12,0; 31,6]; p < 0,001).
Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng liên quan đến phong bế kép hệ renin-angiotensin-aldosteron
Hai thử nghiệm lâm sàng lớn được thiết kế ngẫu nhiên, có đối chứng [
ONTARGET (ONgoing Telmisartan Alone and in combination with Ramipril Global Endpoint Trial) và VA NEPHRON-D (
The Veterans Affairs Nephropathy in Diabetes)] đã đánh giá phác đồ phối hợp một thuốc ức chế men chuyển với một thuốc chẹn thụ thể angiotensin II. ONTARGET là nghiên cứu được thực hiện trên bệnh nhân có tiền sử bệnh tim mạch, bệnh mạch máu não, hoặc đái tháo đường týp 2 có bằng chứng tổn thương cơ quan đích. VA NEPHRON-D là nghiên cứu trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 và bệnh thận do đái tháo đường. Hai nghiên cứu này cho thấy không có sự cải thiện đáng kể đối với kết cục thận và/hoặc tim mạch cũng như tỷ lệ tử vong, trong khi lại ghi nhận tăng nguy cơ tăng kali máu, tổn thương thận cấp và/hoặc tụt huyết áp khi so với phác đồ đơn trị.
Do tính tương tự về đặc tính dược lực học, những kết quả này cũng tương tự với các thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II khác.
Do đó, không nên sử dụng đồng thời thuốc ức chế men chuyển và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên các bệnh nhân mắc bệnh thận do đái tháo đường.
ALTITUDE (
Aliskiren Trial in Type 2 Diabetes Using Cardiovascular and Renal Disease Endpoints) là nghiên cứu được thiết kế để đánh giá lợi ích của việc thêm aliskiren vào phác đồ điều trị chuẩn gồm một thuốc ức chế men chuyển hoặc một thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên các bệnh nhân mắc đái tháo đường týp 2 và bệnh thận mạn, bệnh tim mạch hoặc cả hai. Nghiên cứu này đã kết thúc sớm do tăng nguy cơ gặp kết cục bất lợi. Đột quỵ và tử vong do nguyên nhân tim mạch thường gặp hơn ở nhóm aliskiren so với nhóm placebo và các biến cố bất lợi và biến cố bất lợi nghiêm trọng đáng chú ý (tăng kali máu, tụt huyết áp và suy giảm chức năng thận) cũng được báo cáo với tần suất cao hơn ở nhóm aliskiren so với nhóm giả dược.
Quần thể bệnh nhi
Độ an toàn và hiệu quả của perindopril ở trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được thiết lập (xem phần
Liều lượng và Cách dùng).
Trong một nghiên cứu lâm sàng mở, không có đối chứng trên 62 trẻ em và thiếu niên tăng huyết áp từ 2-15 tuổi với mức lọc cầu thận > 30mL/phút/1,73m
2, các bệnh nhân dùng perindopril với liều trung bình 0,07 mg/kg. Mức liều này được điều chỉnh theo bệnh cảnh và đáp ứng hạ huyết áp của từng bệnh nhân tới liều tối đa 0,135 mg/kg/ngày.
59 bệnh nhân đã hoàn thành giai đoạn nghiên cứu kéo dài ba tháng và 36 bệnh nhân đã hoàn thành giai đoạn nghiên cứu mở rộng kéo dài ít nhất 24 tháng sau đó (thời gian nghiên cứu trung bình là 44 tháng).
Huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương duy trì ổn định từ thời điểm đánh giá ban đầu đến lần đánh giá cuối cùng trên các bệnh nhân đã sử dụng các thuốc điều trị tăng huyết áp trước đó và giảm trên các bệnh nhân chưa được điều trị trước đó. Trên 75% trẻ em có huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương thấp hơn bách phân vị thứ 95 tại lần đánh giá cuối cùng.
Độ an toàn của thuốc trên bệnh nhi phù hợp với dữ liệu độ an toàn đã biết của perindopril.
Amlodipin
Amlodipin là một thuốc ức chế kênh calci thuộc nhóm dihydropyridin (chẹn kênh calci chậm hoặc đối kháng ion calci) có tác dụng ức chế dòng ion calci đi vào cơ tim và cơ trơn mạch máu.
Cơ chế chống tăng huyết áp của amlodipin là do tác dụng làm giãn cơ trơn mạch máu trực tiếp.
Cơ chế chính xác liên quan đến tác dụng làm giảm đau thắt ngực của amlodipin chưa được xác định đầy đủ, tuy nhiên amlodipin làm giảm tình trạng thiếu máu cục bộ nhờ hai tác động sau đây:
- Amlodipin làm giãn các tiểu động mạch ngoại vi và do đó, làm giảm sức cản mạch ngoại vi toàn phần (hậu gánh) – yếu tố gây cản trở hoạt động của tim. Do nhịp tim vẫn duy trì ổn định, sự giảm tải này sẽ làm giảm sự tiêu thụ năng lượng và giảm nhu cầu oxy của cơ tim.
- Cơ chế tác dụng của amlodipin có thể cũng liên quan đến giãn các động mạch vành chính và các tiểu động mạch vành, cả ở vùng bình thường và vùng thiếu máu cục bộ. Sự giãn mạch sẽ làm tăng cung cấp oxy cho cơ tim của các bệnh nhân bị co thắt động mạch vành (đau thắt ngực kiểu Prinzmental hoặc đau thắt ngực biến thể).
Trên bệnh nhân tăng huyết áp, liều một lần mỗi ngày đã làm giảm huyết áp có ý nghĩa lâm sàng ở cả tư thế nằm và tư thế đứng trong suốt 24 giờ. Do khởi phát tác dụng chậm, amlodipin không gây tụt huyết áp cấp.
Trên bệnh nhân đau thắt ngực, liều một lần mỗi ngày làm tăng tổng thời gian gắng sức, trì hoãn sự khởi phát cơn đau thắt ngực và tăng khoảng thời gian cho đến khi khoảng ST chênh xuống 1mm, làm giảm tần suất cơn đau thắt ngực và giảm nhu cầu dùng glyceryl trinitrat.
Amlodipin không gây tác dụng bất lợi trên chuyển hóa hoặc những thay đổi lipid huyết tương và thích hợp dùng cho các bệnh nhân hen, đái tháo đường, bệnh gút.
Sử dụng cho bệnh nhân mắc bệnh mạch vành (CAD)
- xem Bảng 1.

Hiệu quả của amlodipin trong việc ngăn chặn các biến cố lâm sàng ở những bệnh nhân bị bệnh động mạch vành (CAD) đã được đánh giá trong một nghiên cứu độc lập, đa trung tâm, ngẫu nhiên, mù đôi, có đối chứng placebo trên 1.997 bệnh nhân; nghiên cứu
(Comparison of Amlodipine vs. Enalapril to Limit Occurrences of Thrombosis). Trong số những bệnh nhân tham gia nghiên cứu này, 663 người được điều trị với amlodipin 5-10 mg, 673 bệnh nhân được điều trị với enalapril 10-20 mg, và 655 bệnh nhân được cho dùng placebo, thêm vào phác đồ chuẩn gồm các thuốc nhóm statin, thuốc chẹn bêta, thuốc lợi tiểu và aspirin, trong vòng 2 năm. Các kết quả được trình bày trong bảng 1. Kết quả cho thấy bệnh nhân được điều trị với amlodipin ít phải nhập viện do đau thắt ngực hơn và ít phải tái thông mạch máu hơn.
Sử dụng ở bệnh nhân suy tim
Các nghiên cứu huyết động và các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng dựa trên tiêu chí gắng sức ở bệnh nhân suy tim độ II-IV theo phân loại NYHA cho thấy amlodipin không làm nặng thêm tình trạng lâm sàng bằng cách đánh giá khả năng chịu đựng khi gắng sức (nghiệm pháp gắng sức), phân suất tống máu thất trái và triệu chứng lâm sàng.
Một nghiên cứu đối chứng với giả dược (nghiên cứu PRAISE) được thiết kế để đánh giá tác dụng của amlodipin trên bệnh nhân suy tim độ III-IV theo phân loại NYHA đang dùng digoxin, thuốc lợi tiểu và các thuốc ức chế men chuyển. Kết quả cho thấy amlodipin không làm tăng nguy cơ tử vong hoặc tiêu chí kết hợp giữa tử suất và bệnh suất ở bệnh nhân suy tim.
Trong một nghiên cứu tiến cứu dài hạn, có đối chứng giả dược (nghiên cứu PRAISE-2) với amlodipin trên bệnh nhân suy tim độ III và IV NYHA, không có triệu chứng lâm sàng hoặc dấu hiệu của bệnh thiếu máu cục bộ, đang sử dụng với liều ổn định các thuốc ức chế men chuyển, digitalis và thuốc lợi tiểu, amlodipin không ảnh hưởng tỉ lệ tử vong chung hoặc tử vong do nguyên nhân tim mạch. Trên cùng quần thể bệnh nhân này amlodipin có liên quan đến gia tăng các báo cáo về số ca phù phổi.
Thử nghiệm về điều trị dự phòng nhồi máu cơ tim (ALLHAT)
Nghiên cứu ALLHAT (
Antihypertensive and Lipid-Lowering Treatment to Prevent Heart Attack Trial) ngẫu nhiên, mù đôi đánh giá bệnh suất và tử suất được thực hiện để so sánh các phác đồ điều trị bằng thuốc mới hơn: amlodipin 2,5-10 mg/ngày (thuốc chẹn kênh calci) hoặc lisinopril 10-40 mg/ngày (ức chế men chuyển) được ưu tiên dùng trước, so sánh với thuốc lợi niệu thiazid là chlothalidon 12,5-25 mg/ngày cho các bệnh nhân tăng huyết áp từ nhẹ tới trung bình.
Tổng cộng có 33.357 bệnh nhân tăng huyết áp độ tuổi ≥ 55 được chọn ngẫu nhiên và theo dõi trong khoảng thời gian trung bình là 4,9 năm. Những bệnh nhân này phải có thêm ít nhất một yếu tố nguy cơ về bệnh động mạch vành, bao gồm: tiền sử nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ trên 6 tháng trước khi tham gia nghiên cứu, hoặc có bệnh sử xơ vữa mạch vành (51,5%), đái tháo đường týp 2 (36,1%), HDL-Cholesterol < 35mg/dL (11,6%), phì đại thất trái được chẩn đoán bằng điện tâm đồ hoặc bằng siêu âm tim (20,9%), đang hút thuốc (21,9%).
Tiêu chí nghiên cứu chính là tiêu chí kết hợp bao gồm bệnh mạch vành dẫn đến tử vong hoặc nhồi máu cơ tim không tử vong. Không có sự khác biệt đáng kể về tiêu chí chính giữa phác đồ amlodipin với phác đồ chlorthalidon; RR: 0,98 (khoảng tin cậy 95%: [0,90-1,07]; p=0,65). Trong các tiêu chí phụ, tỷ lệ suy tim (một tiêu chí thành phần của tiêu chí tim mạch kết hợp) ở nhóm dùng amlodipin cao hơn có ý nghĩa so với nhóm dùng chlorthalidon (10,2% so với 7,7%, RR: 1,38 (khoảng tin cậy 95%: [1,25-1,52]; p < 0,001). Tuy nhiên, không có khác biệt rõ rệt về tử vong do mọi nguyên nhân giữa phác đồ amlodipin và phác đồ chlorthalidon (RR: 0,96, khoảng tin cậy 95%: [0,89-1,02]; p=0,20).
Quần thể bệnh nhi
Trong một nghiên cứu có sự tham gia của 268 trẻ em và thiếu niên từ 6 đến 17 tuổi chủ yếu mắc tăng huyết áp thứ phát, so sánh amlodipin liều 2,5 mg và 5,0 mg với giả dược, đã cho thấy cả hai mức liều đều làm giảm huyết áp tâm thu đáng kể so với giả dược. Khác biệt giữa hai mức liều không có ý nghĩa thống kê.
Ảnh hưởng dài hạn của amlodipin đến tăng trưởng, dậy thì và sự phát triển cơ thể chưa được nghiên cứu. Hiệu quả dài hạn của amlodipin khi sử dụng trong thời niên thiếu để làm giảm bệnh suất và tử suất liên quan đến tim mạch khi đến tuổi trưởng thành chưa được thiết lập. Xem phần
Liều lượng và Cách dùng.