Mỗi viên: Baclofen 10 mg hoặc 20 mg.
Baclofen 10: Viên nén tròn màu trắng hoặc trắng ngà, một mặt trơn, một mặt có khắc vạch ngang ở giữa.
Baclofen 20: Viên nén tròn màu trắng hoặc trắng ngà, một mặt trơn, một mặt có khắc dấu chữ thập
Nhóm dược lý: Chống co cứng trong chấn thương tủy sống.
Mã ATC: M03BX01.
Baclofen là thuốc chống co cứng tác dụng lên tủy sống. Là dẫn xuất của acid gama aminobutyric (GABA), baclofen không liên quan với các chất chống co cứng khác về phương diện hóa học.
Baclofen làm giảm dẫn truyền phản xạ đơn synap và đa synap, có thể do kích thích các receptor GABAB, dẫn đến ức chế giải phóng các amino acid kích thích glutamate và aspartate. Baclofen không ảnh hưởng đến dẫn truyền thần kinh cơ.
Lợi ích chính của baclofen là khả năng giảm đau do co thắt cơ gấp và chứng giật rung tự phát giúp bệnh nhân vận động dễ dàng, tăng tính chủ động và khả năng phục hồi.
Baclofen cũng có tác dụng giảm đau, thường cải thiện tốt hơn và tác dụng an thần ít hơn các thuốc tác dụng lên thần kinh trung ương.
Baclofen kích thích sự tiết acid dạ dày.
Hấp thu: Baclofen hấp thu nhanh và hoàn toàn qua đường tiêu hóa. Sau khi uống liều đơn (10 – 30 mg), nồng độ đỉnh trong huyết tương đạt được sau 0,5 – 1,5 giờ và diện tích dưới đường cong tỷ lệ thuận với liều dùng.
Phân bố: Thể tích phân bố của baclofen là 0,7 L/kg. Tỷ lệ gắn kết với protein khoảng 30% và không thay đổi trong khoảng nồng độ từ 10 – 300 microgam/mL. Nồng độ chất có hoạt tính trong dịch não tủy thấp hơn khoảng 8,5 lần so với trong huyết tương.
Chuyển hóa: Baclofen chuyển hóa với tỷ lệ nhỏ. Sự khử amin tạo ra chất chuyển hóa chính, acid β-(p-chlorophenyl)-4-hydroxybutyric, không có tác dụng dược lý.
Thải trừ: Thời gian bán thải trung bình 3 – 4 giờ. Baclofen được thải trừ chủ yếu ở dạng không đổi. Trong vòng 72 giờ, khoảng 75% liều được thải trừ qua thận, trong đó có khoảng 5% dạng chất chuyển hóa.
Các đối tượng đặc biệt
Bệnh nhân cao tuổi (≥ 65 tuổi)
Dược động học của baclofen ở bệnh nhân cao tuổi tương tự như ở bệnh nhân dưới 65 tuổi. Sau khi uống liều đơn, bệnh nhân cao tuổi thải trừ chậm hơn nhưng sự phơi nhiễm baclofen tương tự bệnh nhân dưới 65 tuổi. Sự suy diễn từ những kết quả này sang liệu pháp điều trị đa liều cho thấy không có sự khác biệt về dược động học ở bệnh nhân dưới 65 tuổi và bệnh nhân cao tuổi.
Trẻ em
Khi cho trẻ em (2 – 12 tuổi) uống liều 2,5 mg, Cmax đạt 62,8 ± 28,7 nanogam/mL và Tmax từ 0,95 – 2 giờ, độ thanh thải trung bình trong huyết tương (Cl) 315,9 mL/giờ/kg, thể tích phân bố (Vd) 2,58 L/kg, và thời gian bán thải (T1/2) 5,10 giờ.
Bệnh nhân suy gan
Chưa có dữ liệu về dược động học trên bệnh nhân suy gan khi dùng baclofen. Tuy nhiên, do gan không đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa baclofen, nên dược động học của baclofen sẽ không bị thay đổi tới mức có ý nghĩa lâm sàng ở bệnh nhân suy gan.
Bệnh nhân suy thận
Chưa có dữ liệu về dược động học trên bệnh nhân suy thận khi dùng baclofen. Baclofen thải trừ chủ yếu qua nước tiểu ở dạng không đổi. Các dữ liệu nồng độ trong huyết tương thu được thưa thớt ở những phụ nữ thẩm phân máu mạn tính hoặc suy thận mất bù cho thấy có sự giảm đáng kể độ thanh thải và tăng thời gian bán thải baclofen ở những bệnh nhân này. Nên chỉnh liều baclofen đối với bệnh nhân suy thận và thẩm tách máu ngay để có hiệu quả trong việc thải trừ lượng thừa baclofen ra khỏi hệ tuần hoàn.
Baclofen làm tăng tần suất xuất hiện thoát vị vùng rốn bẩm sinh (thoát vị bụng) ở bào thai chuột khi dùng liều gấp 13 lần liều tối đa dùng cho người. Không thấy điều này ở chuột nhắt và thỏ.
Sự gia tăng tỷ lệ u nang buồng trứng một cách rõ rệt và gia tăng tỷ lệ phì đại và/hoặc xuất huyết tuyến thượng thận đã được thấy ở những con chuột cống cái dùng baclofen trong 2 năm. Ý nghĩa lâm sàng của những điều này chưa được xác định.
Bằng chứng thực nghiệm đến nay cho thấy baclofen không gây ung thư hoặc đột biến.
Baclofen được chỉ định để giảm co cứng cơ trong các rối loạn như: xơ cứng rải rác, các tổn thương tủy sống khác như u tủy sống, rỗng tủy sống, bệnh thần kinh vận động, viêm tủy ngang, tổn thương tủy sống.
Baclofen cũng được chỉ định cho người lớn và trẻ em để giảm co cứng cơ do tai biến mạch máu não, bại não, viêm màng não, tổn thương do chấn thương đầu.
Việc lựa chọn bệnh nhân rất quan trọng khi bắt đầu điều trị bằng baclofen. Baclofen có hiệu quả nhất đối với các bệnh nhân bị co cứng cơ gây cản trở hoạt động và/hoặc đang tập vật lý trị liệu. Không nên để trạng thái co cứng ở bệnh nhân ổn định mới bắt đầu điều trị.
Trẻ em
Baclofen dùng cho trẻ em dưới 18 tuổi để điều trị chứng co cứng do não, đặc biệt là trẻ em bị bại não, cũng như sau tai biến mạch máu não, hoặc bị u mạch não hay thoái hóa não.
Baclofen cũng được chỉ định để điều trị co cứng cơ do nhiễm khuẩn, thoái hóa, tổn thương, u tủy sống, hoặc không rõ nguyên nhân như xơ cứng rải rác, tê liệt tủy sống, xơ cứng cột bên teo cơ, rỗng tủy sống, viêm tủy ngang, liệt 2 chi hoặc liệt nhẹ 2 chi dưới, và chèn ép tủy sống
Trước khi bắt đầu điều trị bằng baclofen, cần thận trọng đánh giá một cách thực tế mức độ cải thiện lâm sàng toàn diện mà bệnh nhân có thể đạt được. Thận trọng khi xác định liều (đặc biệt ở bệnh nhân cao tuổi) cho đến khi tình trạng bệnh nhân ổn định. Dùng liều khởi đầu quá cao hay tăng liều quá nhanh sẽ xuất hiện tác dụng không mong muốn. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với bệnh nhân đi lại để giảm thiểu sự yếu cơ ở các chi không bị tổn thương hoặc những nơi cần co cứng để hỗ trợ.
Khi đã dùng liều tối đa mà bệnh vẫn không thuyên giảm trong vòng 6 tuần, nên cân nhắc có tiếp tục dùng baclofen nữa hay không.
Giảm liều dần trong khoảng 1 đến 2 tuần trước khi ngưng điều trị, ngoại trừ những trường hợp cấp cứu liên quan đến quá liều hoặc xuất hiện các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng.
Người lớn
Liều khởi đầu: 15 mg, chia thành nhiều liều. Nên tăng liều một cách từ từ như sau, tuy nhiên, nên điều chỉnh để phù hợp với từng bệnh nhân.
- 5 mg x 3 lần/ngày, trong 3 ngày.
- 10 mg x 3 lần/ngày, trong 3 ngày.
- 15 mg x 3 lần/ngày, trong 3 ngày.
- 20 mg x 3 lần/ngày, trong 3 ngày.
Liều đến 60 mg/ngày đã kiểm soát tốt được các triệu chứng, tuy nhiên cẩn thận khi chỉnh liều là điều cần thiết đối với từng bệnh nhân. Có thể tăng liều từ từ nếu cần thiết, nhưng không khuyến cáo tăng đến 100 mg/ngày trừ khi bệnh nhân được điều trị trong bệnh viện dưới sự giám sát chặt chẽ của bác sỹ. Sử dụng liều nhỏ thường xuyên tốt hơn so với sử dụng liều cao ngắt quãng. Một số bệnh nhân sử dụng baclofen vào buổi tối để giảm đau do co thắt cơ gấp. Tương tự, khi sử dụng liều đơn khoảng 1 giờ trước khi làm các việc cụ thể như giặt rửa, thay quần áo, cạo râu, tập vật lý trị liệu sẽ giúp bệnh nhân dễ vận động hơn.
Bệnh nhân cao tuổi (≥ 65 tuổi)
Bệnh nhân cao tuổi dễ bị tác dụng không mong muốn, đặc biệt trong giai đoạn đầu dùng baclofen. Nên sử dụng liều nhỏ khi bắt đầu điều trị, chỉnh liều từ từ dựa trên đáp ứng của bệnh nhân dưới sự giám sát chặt chẽ. Không có bằng chứng cho thấy liều tối đa trung bình ở bệnh nhân cao tuổi khác với các bệnh nhân trẻ tuổi.
Trẻ em (< 18 tuổi)
Nên bắt đầu điều trị với liều thấp (khoảng 0,3 mg/kg/ngày) chia 2 – 4 lần, tốt nhất là chia thành 4 lần. Tăng liều thận trọng trong khoảng thời gian 1 tuần cho đến khi đủ liều yêu cầu của mỗi trẻ. Liều duy trì 0,75 – 2 mg/kg. Tổng liều không quá 40 mg/ngày đối với trẻ dưới 8 tuổi.
Ở trẻ trên 8 tuổi, tối đa 60 mg/ngày.
Baclofen không thích hợp cho trẻ dưới 33 kg.
Bệnh nhân suy thận
Bệnh nhân suy thận hoặc thẩm tách máu mãn tính: 5 mg/ngày.
Chỉ sử dụng baclofen cho bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối khi lợi ích lớn hơn nguy cơ. Những bệnh nhân này cần được giám sát chặt chẽ để chẩn đoán sớm các dấu hiệu hoặc triệu chứng độc tính (như buồn ngủ, hôn mê).
Bệnh nhân suy gan
Không có nghiên cứu nào về sử dụng baclofen ở bệnh nhân suy gan. Gan không đóng vai trò quan trọng trong chuyển hóa baclofen sau khi uống, tuy nhiên, baclofen làm tăng men gan.
Thận trọng khi dùng cho người suy gan.
Bệnh nhân trong tình trạng co cứng do não
Tác dụng không mong muốn xuất hiện nhiều hơn ở những bệnh nhân này, do đó, cần chỉnh liều và phải giám sát chặt chẽ.
Quá mẫn với bất cứ thành phần nào của thuốc.
Loét dạ dày.
Rối loạn tâm thần và thần kinh
Rối loạn tâm thần, tâm thần phân liệt, trầm cảm hoặc kích động, lú lẫn hoặc bệnh parkinson có thể bị trầm trọng hơn khi dùng baclofen. Bệnh nhân bị các bệnh này nên được điều trị thận trọng và giám sát chặt chẽ.
Động kinh
Baclofen làm trầm trọng thêm bệnh động kinh nhưng có thể dùng được nếu giám sát chặt chẽ và duy trì liệu pháp chống co giật.
Các trường hợp khác
Thận trọng khi sử dụng baclofen cho bệnh nhân dùng thuốc chống tăng huyết áp.
Thận trọng khi sử dụng baclofen cho bệnh nhân tai biến mạch máu não, suy thận, suy gan.
Thận trọng khi sử dụng baclofen cho bệnh nhân cao tuổi và những bệnh nhân trong tình trạng co cứng do não vì tác dụng không mong muốn xuất hiện nhiều hơn ở những bệnh nhân này.
Suy thận
Sử dụng baclofen thận trọng ở bệnh nhân suy thận và chỉ dùng cho bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối nếu lợi ích vượt trội nguy cơ. Các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh của quá liều bao gồm các biểu hiện lâm sàng của bệnh nhiễm độc não (ví dụ: nhầm lẫn, mất phương hướng, buồn ngủ, và suy giảm mức độ nhận thức) đã được báo cáo ở bệnh nhân suy thận dùng baclofen với liều trên 5 mg/ngày. Bệnh nhân suy giảm chức năng thận nên được theo dõi chặt chẽ để chẩn đoán sớm các triệu chứng ngộ độc.
Đặc biệt thận trọng khi dùng đồng thời baclofen với các thuốc ảnh hưởng đến chức năng thận. Kiểm tra chặt chẽ chức năng thận và chỉnh liều baclofen hàng ngày để tránh nhiễm độc baclofen.
Các trường hợp nhiễm độc baclofen đã được báo cáo ở những bệnh nhân suy thận cấp tính.
Bên cạnh việc ngưng baclofen, việc thẩm tách máu đột xuất được coi là phương pháp điều trị thay thế cho bệnh nhân nhiễm độc baclofen nặng. Thẩm tách máu có tác dụng loại bỏ baclofen ra khỏi cơ thể, làm giảm triệu chứng quá liều và rút ngắn thời gian hồi phục ở những bệnh nhân này.
Rối loạn tiểu tiện
Trong điều trị bằng baclofen, tình trạng rối loạn tiểu tiện có nguồn gốc thần kinh có thể được cải thiện. Ở những bệnh nhân tăng trương lực cơ, sự bí tiểu cấp có thể xảy ra, thận trọng với những trường hợp này.
Kết quả xét nghiệm
Hiếm gặp các trường hợp tăng aspartat aminotransferase, phosphat kiềm huyết và glucose huyết thanh. Nên thực hiện các xét nghiệm thích hợp đối với bệnh nhân bệnh gan hoặc đái tháo đường để đảm bảo rằng không có thuốc nào ảnh hưởng đến các bệnh lý sẵn có này.
Ngưng thuốc đột ngột
Lo âu hoặc lẫn lộn, mê sảng, ảo giác, rối loạn tâm thần, hưng cảm hoặc hoang tưởng, co giật (tình trạng động kinh), loạn vận động, nhịp tim nhanh, sốt cao và như một hiện tượng tái phát dội ngược, chứng co cứng trầm trọng tạm thời đã được báo cáo sau khi ngưng đột ngột baclofen, đặc biệt là sau khi điều trị một thời gian dài.
Phản ứng cai thuốc bao gồm cả co giật ở trẻ sơ sinh đã được báo cáo sau khi bị phơi nhiễm trong tử cung của người mẹ uống thuốc.
Trừ khi xuất hiện tác dụng không mong muốn nặng, nên ngưng điều trị bằng cách giảm liều từ từ trong khoảng 1 – 2 tuần trước khi ngưng hẳn.
Trẻ em
Dữ liệu lâm sàng ở trẻ em dưới 1 tuổi còn giới hạn. Sử dụng cho những bệnh nhân này nên dựa vào sự xem xét của bác sỹ giữa nguy cơ và lợi ích điều trị.
Tư thế và cân bằng
Baclofen nên được sử dụng cẩn thận khi cần đạt đến trạng thái co cứng cho bệnh nhân để duy trì đứng thẳng và cân bằng trong vận động.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc
Baclofen có thể gây các tác dụng không mong muốn như chóng mặt, an thần, buồn ngủ và thị lực kém có thể ảnh hưởng đến bệnh nhân. Bệnh nhân không được lái xe, vận hành máy móc, làm việc trên cao hay các trường hợp khác khi gặp các tác dụng không mong muốn này.
Phụ nữ có thai:
Trong thời kỳ mang thai, đặc biệt là 3 tháng đầu, chỉ sử dụng baclofen khi thật cần thiết. Trước khi điều trị, phải cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích cho người mẹ và những nguy cơ cho trẻ. Baclofen qua được hàng rào nhau thai.
Phản ứng cai thuốc bao gồm co giật đã được báo cáo ở trẻ sơ sinh khi người mẹ mang thai dùng baclofen.
Phụ nữ cho con bú:
Một lượng rất nhỏ baclofen qua sữa mẹ, do đó không ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh.
Levodopa/ thuốc ức chế dopa decarboxylase (DDC) (carbidopa)
Bệnh nhân bị parkinson khi được điều trị bằng baclofen và levodopa (sử dụng 1 mình hoặc kết hợp với thuốc ức chế dopa decarboxylase, carbidopa) bị rối loạn tâm thần, ảo giác, buồn nôn, lo âu. Các triệu chứng của bệnh parkinson cũng trở nên trầm trọng hơn. Vì vậy thận trọng khi dùng đồng thời baclofen và levodopa/carbidopa.
Thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương
Khi kết hợp baclofen với các thuốc ức chế hệ thần kinh trung ương khác như thuốc giãn cơ (như tizanidine), opiate tổng hợp hoặc acohol làm tăng tác dụng an thần.
Nguy cơ suy hô hấp cũng tăng. Ngoài ra, hạ huyết áp cũng được báo cáo khi dùng morphin cùng với tiêm màng cứng baclofen. Cần phải kiểm tra chức năng hô hấp và tim mạch đối với bệnh nhân bị tim phổi hoặc nhược cơ hô hấp.
Thuốc chống trầm cảm
Trong quá trình điều trị đồng thời với thuốc chống trầm cảm 3 vòng, tác dụng của baclofen có thể tăng lên gây yếu cơ.
Lithium
Thận trọng khi dùng đồng thời baclofen với lithium vì gây tăng vận động trầm trọng.
Thuốc chống tăng huyết áp
Dùng đồng thời baclofen với thuốc chống tăng huyết áp gây tăng tác dụng hạ huyết áp, cần phải chỉnh liều thuốc chống tăng huyết áp.
Thuốc giảm chức năng thận
Các thuốc ảnh hưởng đến chức năng thận có thể làm giảm bài tiết baclofen dẫn đến độc tính.
Để tránh tương tác giữa các thuốc, thông báo cho bác sỹ hoặc dược sỹ về những thuốc đang sử dụng.
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
Tác dụng không mong muốn thường xuất hiện trong thời gian đầu dùng thuốc (như an thần, buồn nôn, buồn ngủ) nếu tăng liều quá nhanh hoặc nếu dùng liều cao, hoặc khi dùng cho bệnh nhân cao tuổi, thường có tính nhất thời, có thể được giảm đi hoặc loại bỏ bằng cách giảm liều. Các tác dụng không mong muốn này không đến nỗi nghiêm trọng, không cần phải ngưng thuốc.
Nên uống baclofen với thức ăn hoặc sữa nếu buồn nôn vẫn xuất hiện sau khi giảm liều.
Tác dụng không mong muốn có thể nặng hơn khi dùng cho bệnh nhân có tiền sử bị tâm thần hoặc rối loạn mạch máu não (ví dụ đột quỵ), bệnh nhân cao tuổi.
Co giật có thể xuất hiện, đặc biệt ở bệnh nhân động kinh.
Một số bệnh nhân tăng co cứng cơ như là sự phản ứng lại với thuốc.
Yếu cơ có thể xuất hiện, gây khó khăn cho bệnh nhân trong việc đi lại và chống đỡ, có thể được giảm bớt do chỉnh liều (ví dụ giảm liều trong ngày và tăng liều vào buổi tối).
Rất thường gặp, ADR ≥ 1/10
Thần kinh: an thần, buồn ngủ.
Tiêu hóa: buồn nôn.
Thường gặp, 1/100 ≤ ADR < 1/10
Thần kinh: suy hô hấp, lú lẫn, chóng mặt, ảo giác, trầm cảm, mệt mỏi, phấn khích, yếu cơ, mất điều hòa vận động, run, ác mộng, đau cơ, đau đầu, khô miệng.
Mắt: giảm tầm nhìn, rối loạn điều tiết.
Tim mạch: cung lượng tim giảm.
Mạch máu: hạ huyết áp.
Tiêu hóa: rối loạn tiêu hóa, táo bón, tiêu chảy, nôn.
Da và tổ chức dưới da: phát ban, đổ mồ hôi.
Thận và tiết niệu: tiểu rát, đái dầm, tiểu khó.
Hiếm gặp, 1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000
Thần kinh: cảm giác khác thường, loạn ngôn, chứng khó viết.
Tiêu hóa: đau bụng.
Gan: bất thường chức năng gan.
Thận và tiết niệu: bí tiểu.
Sinh sản: rối loạn cương dương.
Rất hiếm gặp, ADR < 1/10.000
Toàn thân: hạ thân nhiệt.
Tần suất chưa biết:
Tim mạch: chậm nhịp tim.
Da và tổ chức dưới da: mày đay.
Toàn thân: hội chứng cai thuốc.
Khác: glucose huyết tăng.
Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sỹ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Quá liều:
Triệu chứng điển hình xảy ra là ức chế thần kinh trung ương: buồn ngủ, mất ý thức, hôn mê, ức chế hô hấp. Cũng có thể xảy ra: lú lẫn, ảo giác, kích động, co giật, bất thường điện não đồ (dạng bùng nổ – ức chế và sóng 3 pha), rối loạn điều tiết, phản xạ đồng tử bất thường, nhược cơ, cơn múa giật, chứng giãn xạ hoặc mất phản xạ, giãn mạch ngoại vi, hạ huyết áp hoặc tăng huyết áp, chậm nhịp tim, tim nhanh hoặc loạn nhịp tim, hạ thân nhiệt, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, tăng tiết nước bọt, tăng enzym gan. Bệnh nhân suy giảm chức năng thận có thể gặp các triệu chứng quá liều ngay cả khi dùng liều thấp.
Tình trạng trầm trọng hơn khi dùng đồng thời với các thuốc tác động lên hệ thần kinh trung ương (như alcohol, diazepine, thuốc chống trầm cảm 3 vòng).
Cách xử trí:
Không có thuốc giải độc đặc hiệu.
Tích cực thực hiện các biện pháp hỗ trợ và điều trị các triệu chứng: hạ huyết áp, tăng huyết áp, co giật, rối loạn tiêu hóa, ức chế hô hấp và tim mạch.
Do thuốc được thải trừ chủ yếu qua thận, nên cho bệnh nhân uống nhiều nước, có thể dùng thuốc lợi tiểu. Thẩm phân máu (đôi khi đột xuất) có thể được thực hiện trong trường hợp ngộ độc nặng gây suy thận.
Nơi khô ráo, tránh ánh sáng, nhiệt độ không quá 30oC.
M03BX01 - baclofen ; Belongs to the class of other centrally-acting muscle relaxants.
Baclofen 10 Viên nén 10 mg
1 × 100's;3 × 10's;5 × 10's
Baclofen 20 Viên nén 20 mg
1 × 100's;3 × 10's